Đơn kinh

Share:

Vô Vi pháp

Share:

Đọc “CAO ĐÀI NGOẠI KHUYẾT”



Kính quý Huynh tỷ !

 Nhân đọc lại cuốn “ Cao Đài Ngoại Khuyết “ có đăng trong Thư Viện này, và được biết do Ngài Giác Minh biên soạn, nhằm truyền đạt giáo lý Đạo cho kẻ hậu học đi sau không sai lạc chơn truyền. nhất là người có phần hành chỉ kiểu cần phải biết rõ . Thật là công đức to lớn , rất quý hoá thay !

 Có nhiều vấn đề được bày tỏ , lời lẽ bình dân dễ hiểu . Song ở chỗ nói về 9 Phép Tu Tiên trong “ Cao Đài Ngoại Khuyết “ này không phải là do Ngài Giác Minh đặt ra mà trích ra từ sách “ Tánh Mạng song tu Vạn Thần khuê chỉ “ do Ngài Doãn Chơn Nhơn viết có từ thế kỷ 17 ( 1670 ).

Không biết là do lỗi biên tập và đánh máy hay ngộ nhận thế nào mà 9 phép tu Tiên trong “ Cao Đài ngoại khuyết “ có khác biệt .

Trong khi đó Tánh Mệnh Khuê Chỉ :

1/ ĐỆ NHẤT TIẾT KHẨU QUYẾT

HÀM DƯỠNG BẢN NGUYÊN, CỨU HỘ MỆNH BẢO

第 一 節 口 訣 : 涵 養 本 原 救 護 命 寶

2/ ĐỆ NHỊ TIẾT KHẨU QUYẾT

AN THẦN TỔ KHIẾU, HẤP TỤ TIÊN THIÊN

第 二  節 口 訣 : 安 神 祖 竅, 翕 聚 先 天

3/ĐỆ TAM TIẾT KHẨU QUYẾT

TRẬP TÀNG KHÍ HUYỆT, CHÚNG DIỆU QUI CĂN

第 三 節 口 訣 : 蟄 藏 氣 穴 , 眾 妙 歸 根

4/ ĐỆ TỨ TIẾT KHẨU QUYẾT

THIÊN NHÂN HỢP PHÁT, THÁI DƯỢC QUI HỒ

第 四 節 口 訣 : 天 人 合 發, 采 藥 歸 壺

5/ ĐỆ NGŨ TIẾT KHẨU QUYẾT

KIỀN KHÔN GIAO CẤU, KHỬ KHOÁNG LƯU KIM

第 五 節 口 訣 : 乾 坤 交 媾, 去 礦 留 金

6/ ĐỆ LỤC TIẾT KHẨU QUYẾT

LINH ĐƠN NHẬP ĐỈNH, TRƯỞNG DƯỠNG THÁNH THAI

第 六 節 口 訣 : 靈 丹入 鼎, 長 養 聖 胎

7/ ĐỆ THẤT TIẾT KHẨU QUYẾT

ANH NHI HIỆN HÌNH, XUẤT LY KHỔ ẢI

第 七 節 口 訣 : 嬰 兒 現 形, 出 離 苦 海

8/ ĐỆ BÁT TIẾT KHẨU QUYẾT

DI THẦN NỘI VIỆN ĐOAN CỦNG MINH TÂM

第 八 節 口 訣 : 移 神 內 院, 端 拱 冥 心

9/ ĐỆ CỬU TIẾT KHẨU QUYẾT

BẢN THỂ HƯ KHÔNG, SIÊU XUẤT TAM GIỚI

第 九 節 口 訣 : 本 體 虛 空, 超 出 三 界.


Ta so sánh có những chữ khác biệt rất rõ ràng như sau :

*- Trập tàng khí huyết chúng diệu quy càn.

    Trập tàng khí HUYỆT chúng diệu quy CĂN.

*- Thiên nhân hiệp pháp thái dược quy hồ

     Thiên nhân hiệp PHÁT thái dược quy hồ.

*- Càn khôn giao phối  khử quản lưu kim

     Càn khôn giao CẤU khử KHOÁNG lưu kim

*- Di thần nội diện đoan cúng minh tâm

     Di thần nội VIỆN đoan CỦNG minh tâm…

  ( Các chữ in hoa màu đỏ là bản của “ Tánh mệnh khuê chỉ “ )…

  Vì chữ đã khác biệt nên khi giảng ra cũng khác biệt nhau  xa vậy ! Nói chung nghe qua thì cũng hợp lý nhưng đã chệch đi một hướng khác .

 Thí dụ :  “Trập tàng khí huyết chúng diệu quy càn” :   chứa đựng khí huyết lưu thông quy về trái tim đi nuôi dưỡng não óc …   Trong khi “ Trập tàng khí huyệt chúng diệu quy căn “ có ý nghĩa khác : Dấu chứa Dương thần ở nơi Khí huyệt ( Đan điền) để chúng diệu ( Tinh ) quy căn Nguyên Tinh, Nguyên khí ….

  Hay câu : “Khử quản lưu kim “: giảng là một phần khí nặng đến ruột cùng là Thai Tiên, Thai Thánh ..!  trong khi “ Khử khoáng lưu kim” đơn giản là loại bỏ chất khoáng chỉ giữ lại Vàng !

Khẩu quyết mà nói sai, chép sai , nghĩ sai  , giảng sai sao gọi là Bí quyết đây ?

 Thiện Ngộ đưa ra đây để các Huynh tỷ tham khảo. 

Có dịp sẽ bàn thêm .

Thân mến !


Share:

Tánh đức của Đức Ngô Minh Chiêu hồi còn sanh tiền

 TÁNH ĐỨC CỦA ĐỨC NGÔ HỒI CÒN SANH TIỀN.

***

Kiểu tu của Thầy là Tiên-Đạo, Nhơn-Đạo đi một lượt, nghĩa là vừa tu, vừa làm việc trả nợ đời, tới ngày Đạo thành thì Nhơn-Đạo cũng mãn.

Tu giữa chợ mà không ai biết.

TỬU, SẮC, TÀI, KHÍ không nhiễm, cư trần bất nhiễm trần.

Không trọng cái danh làm quan.

Không kể xác thân. Tu rồi, cái thân như chết chưa chôn.

Ngài thường nói :

“ THÂN NẦY CHẲNG KỂ, KỂ CHI DANH ”.

Không ham sự sang trọng.

Ngài thường nói : “ Chớ ham sang trọng khó theo Thầy”.

Ai nói xấu không giận.

Ngài nói :

“ VIỆC THỊ PHI COI NHƯ LÔNG NHẠN, AI CƯỜI MẶC AI”.

Ít hay chơi với kẻ giàu sang. Hay mến kẻ thấp hèn.

Ngài thường nói :

“ Tố phú quới hành hồ phú quới, tố bần tiện hành hồ bần tiện. Tố nào theo tố nấy. Thủ phận an bần. Ai biểu chơi với kẻ sang làm chi cho bị nó khi ”.

Không hay rước khách. Tánh ưa tu ẩn. Tuy ở chốn thị thiền mà ít ai biết chỗ ở của Ngài.

Không chịu tụ hội. Không ưa đông đảo.

Không chịu ai lạy lục. Không chịu ai tôn trọng.

“NHỨT HÀO VÔ PHẠM”.

Không chịu thọ lãnh lễ vật gì của ai.

Ngài nói :

“ Ở nhà cũng có thờ, để ở nhà cúng, đừng đem tới làm chi thành ra kiểu thầy chùa ”.

Không chịu phô bày và vẽ viên.

Ngài lập ra cái Đạo một cách rẽ-ròi cho mọi người đều tu được.

Không khoe-khoang cái Đạo. Người ta biết Ngài tu, ăn chay mà không hiểu

Ngài tu làm sao ?

Ngài hay hát câu :

“ KÍN NGOÀI RỒI LẠI KÍN TRONG” ( Xem Lịch sử ).

Tánh Ngài ít nói và không xen vô việc của ai.

Ngài dặn trong đệ tử của Ngài rằng :

“ ĐỨA NÀO HAY NHIỀU CHUYỆN THÌ TAO BỎ ” .

Tánh Ngài từ bi mà cứng-cỏi.

Ngài thường nói :

“ĐẠI-HÙNG, ĐẠI-LỰC, ĐẠI TỪ-BI ”.

Tánh Ngài vừa ý mỗi người.

Ngài nói :

“ QUÂN-TỬ TÁNH NHƯ THỦY ”.

“ Cao-Đài ứng hóa theo lòng chúng sanh.

Đố ai có biết cái danh Cao-Đài ”.

Ngài nói :

“ Mình tu mà đừng cho người ta biết mình tu, giữ bề ngoài như người thường ”.

Ngài dạy trong đệ tử rằng :

“ MÌNH ĐỪNG LÀM RA NGƯỜI NGU PHẨM ”.

Tuy ở chốn phiền ba : “ CÁC VIỆC THẤY, NHƯ KHÔNG THẤY, NGHE NHƯ KHÔNG NGHE.

GIỮ TÂM KHÔNG XAO ĐỘNG NHƯ NƯỚC ĐỰNG TRONG BẦU, CÁC VIệC ĐỀU KHÔNG.”

Trong các viêc làm, Ngài hay dè-dặt. Ngài hay nói :

“ TIÊN BẢO KỲ THÂN ”.

Ngài dạy trong đệ-tử Ngài :

“ PHẢI HẠ MÌNH NHỊN NHỤC, LÀM NHƯ THẦY TAM-TẠNG ĐI TỚI ĐÂU CŨNG LẠY HOÀI CHO XUÔI VIỆC ”.

Ngài hay biết ơn và hay lo báo ơn, đáp nghĩa.

Ngài hay làm âm chất, hay bố thí thầm.

Ngài nói : “ Mua ruộng trên Trời vững bền hơn ruộng dưới thế-gian”.

Bởi vậy nên tuy làm quan mà không dư dả như người ta,

TRỌN ĐỜI NGÀI GIỮ THANH BẦN.

Ngài hay nói câu :

“ HỮU PHƯỚC BẤT KHẢ HƯỞNG TẬN; mình có lộc Trời cho đừng hưởng hết, phải làm phước đặng để sau cho con cháu”.

Bình sanh hễ làm viêc chi một lần thì thôi, nên hư gì một lần, Ngài không chịu sửa đi, đổi lại.

Trong việc tu cũng vậy, Ngài không đổi ý. Đó là Ngài làm gương “ NHỨT TÂM ”.

Còn việc ăn uống rất thường.

Không hay ăn đồ chiên xào nhiều dầu và không chịu bày đồ ăn nhiều cách.

Tương, chao là gốc. Chuối sứ và đường thẻ là món tráng miệng thường.

Ngài nói :

“ Miễn ăn no bụng thì thôi ”.

Chỗ Ngài ở không chưng dọn,miễn cho sạch-sẽ thì thôi.

Ngài nói :

“ Chỗ nào cao trên bốn thước tây thì có thanh khí ”.

Chỗ Ngài ở để vài cái ghế ngồi tu, vài cái ghế ngồi ngủ và bàn ăn cơm, đơn sơ ít món vậy thôi.

Không chịu dọn nhiều chuyện.

Khi về nhà Ngài hay mặc đồ bô vải. Khi đi làm việc và đi chơi thì Ngài ăn mặc khăn áo như thường.

Ngài không chịu làm “ TƯỚNG ” như phần nhiều người tu khác.

Trong việc ăn mặc và trong thân hình, Ngài giữ một cách sạch-sẽ.

Ngài nói :

“ THÂN MÌNH CỦA MÌNH ĐỂ DƠ-DÁY VÀ LÈN XÈN, ĐI NÓI ĐẠO CÓ AI

THÈM NGHE ”.

………………….

THẬP THANH ĐIỀU

● Đàn Chợ-Lớn, ngày mùng 5 tháng 12 Nhâm-Thân ( 02-01-1933 )

1- Không nên thâu dụng của bá tánh.

2- Không nên dự vào việc quốc sự.

3- Không nên thốt đến Đạo nào.

4- Không nên niệm chú thư phù và chác thói tà mị.

5- Không nên bươi móc việc quấy và che việc phải của người.

6- Không nên buông lung tự tánh, phải xét những việc tội lỗi mà chừa.

7- Không nên gần kẻ bạo ngược, lung-lăng. Phải ẩn dật lo tu.

8- Không nên tham luyến hồng trần vinh hoa phú quí.

9- Không nên coi người giàu sang hơn kẻ nghèo hèn.

10- Phải giữ Đạo-đức, hiếu-nghĩa, trung-tín, liêm-sĩ, tiết trinh, từ-bi, chơn chánh.

 

MƯỜI ĐIỀU KHUYÊN CỦA ĐỨC NGÔ

Một khuyên giảm khẩu bớ con,

Hai khuyên chánh kỷ cho tròn hóa nhơn.

Ba khuyên giảm tánh giận hờn,

Bốn khuyên giữ lễ chớ lờn oai Tiên.

Năm khuyên kính mến người hiền,

Sáu khuyên đậy mắt lánh miền thị phi.

Bảy khuyên học chữ từ bi,

Tám khuyên Hành Đạo kịp kỳ Long-Hoa.

Chín khuyên suy xét gần xa,

Mười khuyên lập nết ôn hòa độ dân.


BÀI “ CHỐN BỒNG-LAI ” CỦA ĐỨC NGÔ

Chốn Bồng-Lai là nơi thanh-tịnh,

Thú chiều ưa trăng cảnh nước người.

Gió thanh quét sạch mùi đời,

Tình trong sơn thủy cuộc ngoài Càn-Khôn.

Lần qua hải chốn hầu môn,

Công danh biệt ngoại cầm tôn như nhàn.

Gậy lê dạo chốn Quảng Hàn,

Dấu kiều còn tạc Minh-Hoàng thuở xưa.

Hội đào một cuộc say sưa,

Mê man chẳng tám ngàn thừa xuân thu.

Trường sanh có thuốc nhiệm mầu,

Qua vàng sẵn nấu một bầu đơn sa.

Nghêu-ngao vui rạng yên hà,

Tối vào kiểng Thánh, sớm ra non Thần.

Trải qua mấy cuộc phong vân,

Tay nưng bầu cúc, chưn (chân) lần vừng mây.

Tòng reo dễ gió lung lay,

Giọng đờn thấp thoáng dựa tai đưa vào.

Lần qua khỏi vực bờ đào,

Cuộc cờ vô sự anh-hào dễ ghê.

Mượn chơn hoa thiểu lần về,

Tiếng vàng nắm đất thêm ghê anh hùng.

Mây giăng mấy thức giao-long,

Họa đồ cậy có Hóa-Công vẽ-vời.

Ba non trong của biển trời,

Gió hòa trăng rạng nước người như xưa.

Hoa thơm trăng tỏ tình ưa,

Suối đờn, tai đẹp, chim ca ý nhàn.

Lìa nơi Bệ ngọc, Đền vàng,

Lánh nơi phàm tục vui đàng Thiên-Thai.

Luyện mình chẳng nhiễm trần ai,

 

Linh đơn dồi luyện, Linh đài dựa nương.

Dạo chơi đến cảnh Nhạc dương,

Hềm vì phàm tục khôn đường lễ nghi.

Biết đâu ra khỏi tương tri.

Đồng tâm, đồng chí có kỳ thảnh thơi.

..............

BÀI KỆ (Thệ Nguyện)

Mới học Đạo Vô Vi phải thuộc 4 câu kệ như vầy :

1- Chúng sanh vô biên, thệ nguyện độ,

2- Phiền não vô tận, thề nguyện đoạn,

3- Pháp môn vô lượng, thề nguyện học,

4- Phật Đạo vô thượng, thệ nguyện thành.

Giải nghĩa nôm na ra ca cho dễ thuộc, vì học Đạo thì cái trí trung dung, nhàn lạc mới phải Đạo.

Một là sanh chúng hằng hà,

Dốc lòng cứu vớt, lòng Ta thề nguyền.

Hai là phiền não nối chuyền,

Nguyện thề đoạn tuyệt như thuyền ra khơi.

Ba là chí học chiều mơi,

Phép mầu sâu nhiệm thảnh thơi có ngày.

Bốn là Phật Đạo cao dày,

Nguyện thành chánh quả mới tày chí Ta.

( Chép theo Di bút của Thầy lưu lại )

.................

NHỮNG LỜI KIM THẠCH

CỦA ĐỨC NGÔ LÚC CÒN TẠI THẾ

***

Bần Đạo yên vui không mến khách,

Trau giồi tịnh tánh phục linh căn.

Nguơn Thần hiện xuất sanh sanh hóa,

Hỏi thử người tu có biết chăng ?

Chẳng nghe lời trái ý. Trái ý là sái ý thiệt của người tu hành. Chánh ý là giữ phép tu trì, vì sái phép tu trì gọi là trái ý.

Cứ một lòng, một dạ theo lời dạy buổi đầu. Tu trì đã được lâu ngày rồi thì nắm cứng một mối đó mà phăng tới hoài, làm được nhiều năm mới rõ hay.

Ai nói hay, biến biến, hóa hóa, diệu thuật các con chẳng nên tin mà lạc đường, sái ngõ, ăn năn mà khóc.

Ông đây nhờ tu một cách mà thôi, bao nhiêu hay của người khuyên Ông không nghe, nếu nghe thì cúi đầu phục tùng người rồi.

Các con phải ghi tạc vào trí.

Lời thật thà để lại các em và các Đạo hữu.

(Ngày 15/12-1931)

Share:

Tu chơn giác thế

Tu chơn giác thế
 
Share:

Pháp Bảo Đàn diển giãi - Bùi Hà Thanh

Pháp Bảo Đàn diển giãi - Bùi Hà Thanh
 
Share:

Bổn nguyên kinh - phái Bạch Y

 Bổn nguyên kinh - phái Bạch Y

Share:

Pháp chánh truyền - Minh Khai Hải Ngoại

 Pháp chánh truyền - Minh Khai Hải Ngoại

Share:

Việc tu hành không thể chần chờ

VIỆC TU HÀNH KHÔNG THỂ CHẦN CHỜ!

Những con người thiếu thiện duyên may mắn, nghiệp lực quá nặng nề, khó khăn trở ngại trong cuộc sống vô cùng nan giải, bi thương, họ hoàn toàn bế tắc không có điều kiện để mà tu luyện:

· Tuổi thọ không còn khi mới bắt đầu ngộ đạo (già rồi mới tu).

· Sức khỏe hao mòn, thường xuyên bệnh tật, ốm đau.

· Nhà cửa không có, hằng ngày phải vật vã kiếm tiền mưu sinh bằng những công việc lao động chân tay nặng nhọc.

· Hoàn toàn lầm, không ánh sáng của trí huệ giác ngộ.

Những con người có điều kiện, hoàn cảnh không rơi vào những trường hợp trên đều những người thiện duyên may mắn, nghiệp lực nhẹ, những khó khăn trở ngại trong đời, không đến nổi tạo nên những nghịch cảnh, thăng trầm.

Người thiện duyên may mắn, nếu thêm phần công đức đủ đầy, được vun bồi từ nhiều kiếp trước có ánh sáng của trí huệ giác ngộ thì họ sẽ là những “đại nguyên căn” có đủ điều kiện để mà tu luyện trong kiếp này.

Đối với những “đại nguyên căn” thì đời sống tâm linh thật sự là cần thiết và quan trọng! Họ có sự hiểu biết về nhân quả, nghiệp lực, luân hồi, giải thoát và thấu hiểu lý do vì sao con người cần phải tu hành. Họ sống rất tích cực, luôn biết hướng thượng, nhân đạo vuông tròn, hành vi cư xử thường đúng với đạo tâm. Số mệnh của họ trước sau gì rồi cũng phải tu, phải thực hành công phu tu luyện.

Mặc đã sự hiểu biết nhất định nhưng để dấn thân vào hành trình tu luyện thì có không ít những “đại nguyên căn” thường hay chần chờ, hẹn lần lựa, từ ngày này, sang ngày khác vì họ tự cho rằng mình chưa đủ “điều kiện thuận lợi” để dấn thân vào một đời sống tu hành.

Thử hỏi những khó khăn trở ngại của mình phải những khó khăn trở ngại của những người thiếu thiện duyên may mắn?

Thời gian sẽ qua mau, chúng ta dễ đánh mất hội điều kiện của những con người có thiện duyên?

Hễ còn chần chờ là còn rủi ro, mạo hiểm vì bất chợt vô thường ập đến thì sẽ lỡ chuyến đò chiều đến rước những linh căn sang bờ giác. Thật uổng phí một kiếp làm người!

Đó là một ngộ nhận sai lầm về “điều kiện thuận lợi”, về những trở ngại, khó khăn đang gặp phải trong đời.

Khởi đầu vào tu hay xuất phát điểm vào đạo, thử hỏi có mấy ai được thuận lợi bao giờ?

Quá trình tu hành để được giác ngộ hoàn toàn có mấy ai mà không gian nan, vật vã để thắng được dục vọng của lòng mình! Hành trình này là cuộc chiến nội tâm dai dẳng không ngừng!

Đừng bao giờ nghĩ sai lệch cụm từ “điều kiện thuận lợi” trong đời sống tu hành:

· ai cũng phải bị ràng buộc trách nhiệm với gia đình,

· Ai cũng phải vật lộn với cuộc sống mưu sinh,

· Ai cũng phải có những phiền não, khổ lụy, tình cảm, tâm luôn dằng xé,

· Ai cũng phải lo lắng cho sức khỏe, bệnh tật, tuổi thọ, thường,

· Ai cũng phải thường xuyên đối diện trước những vị ngọt cảm thọ dục lạc trổi dậy, luôn đòi hỏi, khó cưỡng lại trong tâm (những khoái lạc, ham muốn, sở thích).

Hết khó khăn này, rồi lại đến khó khăn khác, không bao giờ dừng nghỉ. Nếu chờ đợi “điều kiện thuận lợi” rồi mới tu thì sẽ chờ đợi đến bao giờ?

Đó là qui luật, là đạo lý bắt buộc người tu phải tu từ trong nghiệp lực, khổ đau. Chính nghiệp lực khổ đau là bài học quý giá giúp cho họ nếm trải, mau khai ngộ. Vừa tu vừa trả nợ đời, nghiệp cũ, không vay tạo thêm nghiệp mới cho đến ngày thành Đạo.

Bổn phận trách nhiệm của người tu phải bằng 2 người đời: Vừa lo cho cuộc sống gia đình người thân, vừa phải chuyên tâm tinh tấn tu hành để được khai mở giác ngộ và giải thoát.

Người tu không sợ khổ, không sợ khó, không sợ nghiệp, nghiệp tự đến tự đi, chỉ sợ ý chí nghị lực không đủ mạnh không tấm lòng quyết tâm cầu giải thoát.

Muốn quả vị cao thâm, đòi hỏi người tu phải biết buông bỏ hoàn toàn, không còn tham, sân, si, đoạn trừ thất tình lục dục, sẵn sàng dấn thân vào con đường gian nan, khổ hải để được học hỏi, trải nghiệm, giác ngộ và giải thoát.

Hiểu như thế hành động như thế thì nghiệp lực sẽ mau chóng

tiêu tan.

Tóm lại, việc tu hành tuyệt đối không thể chần chờ.

09.12.2010

THIÊN MINH TÂM

Share:

Lời ngỏ

Đây là trang cá nhân, sưu tầm kinh sách, tài liệu pháp môn, thánh ngôn thánh giáo nội bộ các Nhà Đàn Chiếu Minh nhằm lưu trử và giữ gìn để tham khảo nghiên cứu . Kinh sách cũng có nhiều dị bản do in ấn nhiều lần khác nhau nên vẫn còn có sai sót.

Sưu tầm, nghiêm cứu, để học hỏi và chia sẽ với bạn Đạo 

Thân kính 

Dịch trang Web

Bài được xem nhiều

Tìm kiếm Blog này

Bài mới