Trước đây, vào đúng thời điểm tôi đang tìm hiểu và nghiên cứu học hỏi về học thuyết
Âm dương Ngũ hành, bất chợt từ một góc nhìn, tôi cảm nhận bản ngã (là điều xấu)
thường có khả năng xuất hiện từ trong thành tựu vinh quang (là điều tốt), mặc dù thành
tựu và bản ngã chưa hẵn đã là một cặp phạm trù âm dương mâu thuẫn. Lúc bấy giờ tôi
đã ứng dụng học thuyết Âm dương Ngũ hành vào vấn đề này và đã viết bài “Thành tựu
và bản ngã”.
Đến nay, tôi thấy nội dung này vẫn còn giá trị hữu ích cho những hành giả cho nên tôi
xin được phép chia sẻ cùng các bạn:
Đặt vấn đề:
Nếu ta gọi thành tựu là dương, bản ngã là âm, khi dương phát triển đến cùng cực thì
chuyển thành âm vì trong dương đã có âm rồi.
Phân tích:
Trong thực tế, tôi gặp không ít những hành giả đã đạt được kết quả tu chứng và tạo lập
được nhiều thành tựu đạo pháp vinh quang. Sự nỗ lực tu hành mà đi được đến hành
trình này thì thật là đáng quý, có biết bao nhiêu hành giả hằng mơ ước! Những thành
tựu đó là: Viết kinh sách hay, thuyết pháp giỏi, mỗi ngày làm được rất nhiều điều hữu
ích cho đời, có khả năng dẫn dắt chúng sinh giác ngộ và được hầu hết mọi người chung
quanh khen tặng, kính mến; Cao hơn nữa, họ đã có công rất lớn trong việc xây dựng
trùng tu những ngôi chùa, thánh thất, phát triển đệ tử môn đồ ngày một gia tăng…
Tuy nhiên, có lẽ chính từ môi trường tốt đẹp này, bản ngã hay ngã chấp trong họ đã dần
hình thành và phát triển. Họ đã bị bản ngã trói buộc mà chẳng hề hay biết. Biểu hiện của
bản ngã trong trường hợp này là cảm giác tự hào, cống cao ngã mạn và tự phụ. Họ ít
lắng nghe và luôn bám víu vào cảm giác hạnh phúc qua sự xả thân cho tha nhân mà
quên đi mục tiêu hành trình tiếp tục đi tới của chính mình. Thật đáng tiếc!
Bài học của họ cũng chính là bài học của bản thân tôi và của nhiều người khác nữa. Qua
họ tôi luôn ý thức được rằng: Khi nào chúng ta làm được bất cứ điều gì tốt đẹp cho đời,
dù lớn hay nhỏ thì việc làm đó chỉ là hành động tất yếu của một đạo tâm, là một nghĩa
cử bình thường phải có trong đời, làm như không làm, cho như chẳng cho, được không
thấy là được và mất chẳng tưởng là mất. Việc làm đó như là hơi thở, không cần phải bận
tâm suy nghĩ nhiều làm gì, làm xong thì phải buông bỏ ngay.
Hành trình đi đến giác ngộ và giải thoát, không cho phép hành giả lẫn lộn giữa
mục tiêu, phương tiện và trách nhiệm:
Muốn đi đến đích của hành trình giải thoát, ta phải thường xuyên đối diện với chính mình,
với một hành trang không còn sự trói buộc, tuyệt đối phải loại bỏ tất cả mọi thứ thuộc
về thế gian này, trong đó có cả những thành tựu để chỉ còn nhứt tâm, thanh tịnh. Nhờ
có thanh tịnh tuyệt đối ta mới đạt được giác ngộ và giải thoát hoàn toàn.
Thành tựu sự nghiệp đạo pháp chỉ là phương tiện, trách nhiệm mà ta cần phải buông bỏ
khi nào đã hoàn thành, ta không nên bám víu mãi vào chúng làm gì, vì nó không phải là
mục tiêu của hành trình giải thoát.
Tuy chỉ là phương tiện, trách nhiệm nhưng ta vẫn phải trải rộng tấm lòng, sống trọn vẹn
với chính nó, vì nó là cơ hội để ta lập bồi công đức. Phương tiện sẽ là bồ tát giúp cho ta
có được sự trải nghiệm sâu sắc và cũng là trách nhiệm, nghĩa cử cao cả trong một tâm
hồn giác ngộ.
Khi đã sống đúng đạo tâm, trọn vẹn với nghĩa cử, ta lại trở về với chính mình, không còn
vương vấn điều gì, phải loại bỏ tất cả trong tâm để dấn thân tiếp tục vào hành trình đã
chọn vì đây mới thật sự là mục đích chính, là điều mà ta quan tâm nhất.
Điều quan tâm lớn nhất của một hành giả chính là cái tâm trống rỗng luôn thường hằng.
Cái tâm trống rỗng (tâm thanh tịnh) là chất liệu cơ bản, cần thiết quan trọng bậc nhất
cho một phương pháp tu luyện.
Cái tâm khởi đầu phải là KHÔNG thì kết thúc cũng sẽ là KHÔNG; Cái KHÔNG kết thúc là
cái không chấp đạo, không chấp pháp, buông bỏ mọi ngã chấp, pháp chấp, buông bỏ tất
cả những thành tựu vinh quang và những hiểu biết trong hành trình đã qua để có được
cái KHÔNG của sự hiểu biết giác ngộ hoàn toàn. Đây mới là chân lý, là mục đích
hành giả phải hướng đến.
Mở đầu ta đã đề cập đến “Thành tựu và bản ngã” qua góc nhìn của thuyết Âm dương.
Nhưng sau khi phân tích và lý giải, ta không còn thấy sự tác động, ảnh hưởng của thuyết
âm dương nữa?. Khi đã trở về với vô ngã, là ta đã trở về với nhất nguyên nguồn cội thì
âm dương đã hòa hiệp làm một rồi.
Nếu hôm nay ta nhìn lại vấn đề: “Thành tựu và bản ngã” từ góc nhìn của Lý duyên khởi:
“Các pháp do duyên mà sinh nên chúng không có tự ngã thường hằng” và “Vô ngã mới
là sự thật của các pháp” thì ta sẽ thấy rõ ràng vấn đề này hơn. Thấy thế lòng ta sẽ không
còn bị bản ngã trói buộc nữa./.
THIÊN MINH TÂM.
(Phú Nhuận, tháng 4/2011)