MẮT ĐỎ NGƯƠI VÀNG ( Thiện Ngộ )
MẮT ĐỎ NGƯƠI VÀNG
Ngươi vàng, tròng đỏ bao năm,
Luyện trong Bát-quái cao thâm sáng ngời !
Cuộc Trần, vân-cẩu xem chơi,
Thế-gian mộng ảo, cuộc đời phù-du.
Non nam, biển bắc ngao du,
Càn khôn thế-giới như thu nhỏ lần.
Tai nghe mắt thấy vẫn gần,
Muốn đi cậy phép đẩu-vân lẹ làng!
Sài-gòn, một thoáng Taiwan,
Seoul Hàn-quốc, Thailand, Hoa-Kỳ.
Nơi nào muốn đến thì đi,
Nửa cây hương đốt có khi chưa tàn!
Cười thầm nơi cõi thế-gian,
"Mộng trung hữu thực" ngỡ ngàng thế sao!
Phải đâu là giấc chiêm-bao ....
Thực hư thôi kệ nói sao bây giờ …
Thiện Ngộ.
Dạy 7 : Ngũ Hành hiệp nhứt.
HỌC TU : NGŨ-HÀNH HIỆP NHẤT
Âm dương Nhựt Nguyệt đã rành,
Nay Thầy tiếp tục Ngũ-hành bày phô.
Thái-cực thể nhập Hà-Đồ,
Đất Trời hoán chuyển quy-mô sanh thành.
Thiên nhứt sanh THỦY ấy danh,
Thiên tam, Thiên ngũ, MỘC dành THỔ an.
Địa nhị sanh HỎA rõ ràng,
Sanh KIM, Địa tứ luận bàn cho thông.
Sanh khắc chế hóa mênh mông,
Lớn: bao trời đất, nhỏ : trong muôn loài!
Mộc Kim, Thủy Hỏa an ngôi,
Đông Tây định vị, rạch ròi Bắc Nam.
Từ Ngôi Thái-Cực Thánh-Hoàng,
Lập thành Hoàng-Cực, khởi đoan cơ mầu.
Lạc-Thơ hiễn lý cao sâu,
Quay về nội-tại tìm cầu bản thân.
Thận, Tâm, Can, Phế riêng phần,
Quy gom Hồn, Phách, Tinh, Thần bốn-phương.
Tỳ Thổ Ý tại Trung-ương,
Đơn-ngươn Hoàng-Lão, Pháp-Vương chấp trì.
Năm Rồng hiệp nhất ngũ-chi,
Đỡ thuyền Bát-Nhã thoát ly biền trần.
Xa rời khỏi bến mê-tân,
Thì trò mới được dự phần Long-Hoa.
Tiền-trình đến đấy không xa,
Sẵn đây Ta cấp cho ba Đạo-Phù.
Trò gìn giữ lấy mà tu ...
Ngâm:
Họa Tam-Thiên linh-phù tiếp điễn,
Cho trò Tiên phát-triễn tâm-cơ,
Cảm giao bí nhiệm Đồ-Thơ,
Là ngày Thống nhứt Thầy chờ đợi con …!
Thiện Ngộ.
Dạy 6 : Chú danh Thầy
HỌC TU: NIỆM DANH HIỆU THẦY
Để chân đường Đạo mịt mù,
Nhứt tâm niệm tưởng công-phu hằng ngày.
Danh Thầy gồm đủ mười hai,
Thời Thần luân-chuyển hoát khai đạo mầu.
NAM phương trữ Bính-hỏa đầu,
Là nơi Thượng-Đế bắt cầu tình thương.
MÔ là Vô-cực vô thường,
Hư-không vô ngại khí dường có không.
Chữ CAO vô thượng, chí công,
ĐÀI tiền sùng bái Nho-tông lập đời.
TIÊN là Tiên-đạo thảnh thơi,
ÔNG tu đắc quả, giúp người lợi sanh.
ĐẠI ấy là đại-bi tâm,
BỒ đề chân lý thậm thâm diệu huyền.
TÁT công cứu độ khắp miền,
Nguyện lực to lớn trợ duyên dân lành.
MA HA TÁT, viên mãn thành,
Quy nguyên Tam-giáo, năng hành pháp linh...
Nam mô Cao Đài Tiên-Ông Đại Bồ Tát Ma ha tát
Dạy 5 : Ấn Tam Tài
HỌC TU: ẤN TAM TÀI
Thầy Điên gọi học trò Khùng,
Lên đây nghe pháp “Trung-Dung” của Thầy.
Xưa nay trời đất vần xoay,
Nhựt lai Nguyệt vãng đổi thay Địa-cầu.
Thế-gian mưa nắng dãi dầu,
Cỏ cây, cầm thú nhiệm mầu hóa sinh.
Con người đứng phẩm tối linh,
Trong cơ tiến-hóa hữu-tình tương liên.
Cho nên phải rõ diệu huyền,
Trên trời, dưới đất định yên lâu dài.
Nay Trò vào Đạo Cao-Đài,
Tam-quy, Ngũ-giới là bài đầu tiên.
Tay trái nắm giữ mối giềng,
Ngón cái ấn Tý: Khai Thiên rõ ràng.
Cung Sửu, Tịch Địa tiếp sang,
Ngón cái tay mặt mau toan bấm vào.
Sanh Nhân đã tỏ âm hao,
Đốt giữa ngón cái ấn vào Dần cung.
Hai tay chắp lại thong dong,
Để ngang tại ngực khâm tuân lời Thầy.
Âm dương hiệp-nhứt là đây,
Tam-tài bí chỉ có ngày rõ thông.
Ngũ hành, Ngũ-giới quan phòng,
Trò nghe rán nhớ, sửa lòng học tu ...
Thiện-Ngộ
Dạy tu 4
HỌC TU 4
Điên còn đang nói huyên thiên,
Khùng ta đứng dậy ý riêng tỏ bày.
Cúi đầu khép nép vòng tay,
Tôn Huynh học đạo lễ này nhận cho!
Từ nay xin được làm trò,
Tới lui học hỏi lần dò huyền vi.
Điên rằng: vui miệng một khi,
Nói qua cho biết nhiều khi vẫn lầm.
Ta tuy ngộ đặng tự-tâm,
Diệu minh bổn-giác thậm thâm khó tường.
Gặp mi chỉ lối đem đường,
Mong mi sám hối vào trường chánh chơn.
Đạo Trời đừng có thua hơn,
Ra công lập hạnh oán hờn quên đi.
Chánh nghiệp, tinh tấn, tư-duy,
Phát tâm hạ thủ bước đi từ từ.
Kinh rằng: “Nhược thiệt nhươc hư”,
Thang mây rộng mở, thuyền từ sẵn đưa.
Có câu sách nói từ xưa:
“Thân này khó được, pháp chưa nghe từng!”
Từ nay Ngươi chớ dửng dưng,
Tam-Kỳ Phổ-Độ tin mừng cho mi.
Thành tâm đến đó quy y,
Thọ-truyền bửu-pháp kịp kỳ Long-Hoa ...
Thiện Ngộ
Dạy tu 3
HỌC TU 3
Thằng Khùng hỏi đạo thằng Điên,
Thế nào khai mở Châu-Thiên của mình?
Điên rằng mi chớ tài lanh,
Tánh tâm chưa định mà hành pháp chi!
Về đi! trước học lễ-nghi,
Nói năng thưa hỏi đứng đi cho rành.
Như mi chuốc thói ham danh,
Sắc tài thậm nhiễm vận hành sao nên.
Công-phu dụng chổ chí bền,
Nhứt tâm cầu pháp mới nên phận trò.
Cho hay: sâu chống cạn dò,
Thậm thâm vô thượng khó đo đạo mầu!
Kinh rằng: “Lưỡng nhãn song mâu",
Gom soi quan khiếu bắt cầu thố ô.
Thong dong hít thở ra vô,
Niệm vô biệt niệm: Hà-đồ Lạc-Thơ.
Âm dương động tịnh có giờ,
Thủy Nhâm Hỏa Bính, tri cơ mới tường.
Mười hai Kinh mạch mở đường,
Năm tạng sáu phủ hỗ tương trong ngoài.
Giới quy gồm đủ ân oai,
Ấy là pháp-giới không ngoài thân tâm.
Thương Mi tìm đạo nhiều năm,
Chưa nghe hương-vị thâm trầm khát khao.
Chìa đây! hãy mở Động-Đào!
Khai thông Khí mạch dồi dào xung thiên.
Mệnh-môn, Thân-trụ bình yên,
Linh-Đài bái Phật qua miền Bồng-Lai.
Du dương sáo trúc đêm dài,
Tiêu thiều lảnh lót hòa bài triều thiên.
Một trời một đất nhà riêng ...!
Dạy tu 2
HỌC TU 2
Không nghe không thấy im lìm,
Chín năm đóng cửa để tìm chơn-tâm.
Khùng xưa tỏ chỗ mê lầm,
Tự tâm giải tỏa lạc-lầm ngày xưa.
Một mình hoan lạc say sưa,
Ngắm nhìn vạn vật như chưa được nhìn!
Mây trời mặt nước sắc in,
Chim bay cá lội thú xin trái rừng.
Thênh thang hạc nội tưng bừng,
Véo von tiếng hót nghe mừng vui tai!
Sánh bằng ở cõi Thiên-Thai,
Tâm hồn phơi phới trong ngoài tiêu dao.
Hoa cười như mở môi chào,
Hương dâng thơm ngát như trao ý lành! ...
Một hôm nhớ đến đàn anh,
Khùng nghe mang mác ngọn ngành bâng quơ.
Đã hay sao lại hửng hờ,
Khùng đây còn muốn đợi chờ Thằng Điên!
Thiện Ngộ
Dạy tu 1 ( Thiện Ngộ )
HỌC TU 1
Thằng Khùng hỏi đạo Thằng Điên,
Tu công lập đức tham thiền là sao?
Điên rằng: mi nói tào lao,
Đức nào lập được, công nào có cho!
Như mi tu ấy tu mò,
Mò trăng dưới nước khéo lo tìm hoài...
Hao hơi, mỏi sức bên ngoài,
Nói năng tạp khí nặng mùi trần gian.
Hỏi chi đến việc tham thoàn,
Đằng vân giá vũ dọc ngang trên Trời.
Như mi muốn học đạo Trời,
Phụng hành tín thọ những lời dạy sau:
Một là bỏ thói lau chau,
Hai là phải hiểu trước sau rõ ràng.
Ba là lòng chớ cưu mang,
Sách kinh chữ nghĩa Khùng càng Khùng thêm.
Không nghe không thấy im lìm,
Rồi mi tự biết khỏi tìm hỏi tao...
Khùng rằng : quả thiệt vậy sao,!
Cái công khai ngộ làm sao đáp đền?
Điên rằng: khỏi đáp khỏi đền,
Điên này đâu nhớ đâu quên đứa nào....!
Yếu quyết pháp luyện khí công - Đạo Sư Minh Nhân
YẾU QUYẾT PHÁP LUYỆN KHÍ CÔNG
Quay về thân tâm mà tìm Thần-Khí. Pháp luyện đơn gồm có ba thể: Dược Vật, Hỏa Hầu, Đảnh Khí. Ba vật ấy có chân, có giả, có hậu, có tiền.
Thiên kinh vạn luận cũng chỉ phân tách thật rõ ràng ba việc này:
“Dĩ Hỏa luyện dược nhi kết đơn,
Dĩ Thần ngự Khí nhi thành Đạo”.
Tu Khí công phải lấy hào cửu nhị của quẻ Bát thuần Càn làm đích gọi là Nhị Hầu Thể Mâu Ni. “Hào hai: Hiện Long tại điền lợi kiến đại nhân”.
Khi tu có thuốc trường sanh phải lo phong cố. Phong: đóng kín lại, cố: vững bền kín đáo, có nghĩa là đóng kín sáu giác quan lại. Giác mê ca có câu:
“Ai dốc lòng lên núi Linh-Sơn,
Đóng sáu cửa cho bền then khóa”
Trong thân ta, Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu là tứ thời ở ngôi tứ chính, phải công phu đúng thời mới có kết quả. Tý Ngọ là tịnh luyện trục Tinh-Thần (Tý tấn dương, Ngọ thối âm), Mẹo Dậu hai giờ mộc dục tức là tắm gội Hồn Phách rất chí yếu.
Thần phải thường trụ nơi tổ khiếu (Huyền Quan khiếu), tu lâu ngày thì Thái-cực hiện gọi là Huyền Quan xuất hiện. Đức Lão Tử nói: “Cốc Thần bất tử”, là nói chỗ này, chỗ nhập hồ kỳ khiếu.
Dịch nói: Vô cực nhi Thái-Cực là nói về tổ khiếu Huyền Quan xuất hiện nơi cung Vô-Cực. Vô-Cực là bầu khí tự nhiên, khí không có chỗ cùng cực, là nguyên lý đầu tiên, là trên và trước tất cả, đó là Khí Hư-Vô.
THẦY nói: “Khi chưa có chi trong Trời Đất, thì Khí Hư-Vô sanh có một mình THẦY, ngôi THẦY là Thái-Cực”, Vô-Cực là Đại-Đạo, là Mẹ Linh-hồn của chúng ta.
HỎA HẦU LÀ GÌ?
Hỏa hầu là Thần-Khí, là một tổng danh trong đó có thứ đệ, tiết tự và đều có trong từng hầu, như Tinh sanh thì có hầu Điều Dược, Dược sản thì có hầu Thể Thủ. Quy lư thì có hầu Phong Cố, Khỉ Hỏa thì có hầu Vận Hành, Mộc Dục thì có hầu Đình Tức, Hỏa Túc thì có hầu Chỉ Hỏa, đó là bí cơ của Tiểu Châu Thiên. Nếu chẳng hiểu tận tinh vi, tuy đắc dược mà hành không đúng pháp độ của Hỏa, đâu có được thành đơn, cho nên phải hiểu rõ tất cả.
ĐƯỜNG ĐI CỦA THỦY HỎA
Nhâm Đốc hai mạch là đường đi của Thủy-Hỏa:
“Chốn Bắc Hải nghinh ngang Rùa Trạnh,
Cảnh non Nam chớp cánh Phượng Hoàng,
Cọp lần xuống hố mau toan,
Rồng lên mây bạc cho toàn Châu Thiên.”
Thần là nguyên Thần trong Tâm, Khí là nguyên Khí trong Thận, Tinh Khí vốn là một, lúc luyện Tinh thì Khí ở trong Tinh. Tu phải biết rành Đạo Thần-Khí tức là cái Đạo Tánh Mạng Âm Dương, cho nên nói lý vô biệt quyết, chỉ có Thần-Khí mà thôi.
Tạo Hóa là sanh cơ trong thân ta, người do cơ này mà sanh hình, Tiên Phật do cơ này mà thành Đạo (Phàm Pháp và Tiên Pháp).
TRỰC LUẬN
Tiên Đạo nguyên cơ là Tiên Thiên Thần Khí, lúc luyện Tinh thì Thần Khí ở trong Tinh, lúc luyện Khí thì Thần ở trong Khí, lúc luyện phải rành về Hỏa, lấy Hỏa phải dùng hơi thở Quy Tức (vỏ Hỏa). Tu bên ngoài tai mắt là tu Thần Khí bên trong. Tu lổ tai tức là phản thính, là bảo toàn được Tinh Khí. Tu con mắt là thâu thị, là hồi quan, thì bảo tồn được nguyên Thần.
CHÂN TRUYỀN
Đã đắc được chơn truyền thì lập tức hạ thủ công phu, nếu quả là chơn Pháp thì biết rõ lúc chơn Tinh bắt đầu manh nha, lập tức hành Pháp Quy Tức công. Hồi quan trực chiếu hạ Đơn Điền, đưa Tinh về Khí huyệt, gọi là Pháp Thể Dược Quy Lư. Cái chân Khí và chân Ý hiệp nhất thì dâm căn tự diệt.
THẦN KHÍ HAO TÁN
Con người từ khi lìa khỏi bụng mẹ thì Thần đã hướng ngoại, chẳng cần cố đoái đến Thần. Cố đoái là ngó lại, ngoảnh lại, đoái đến. Thần ẩn tàng nơi Tâm, rồi phát hiện ra đôi mắt, Thần hiệp cùng bảy khiếu trong thân thể mà phát sinh bảy tình, sáu dục, tam độc. Thần theo ban ngày mà hao tán. Mạng thì ẩn tàng nơi Thận rồi sinh ra dâm căn, Mạng theo ban đêm mà tiêu hao, Mạng cứ tiêu hao mãi thì bẩm thọ con người phải chết sớm! Đức Phật dạy: Trong mười hai giờ Hành, Trụ, Tọa, Ngọa (đi, đứng, nằm, ngồi) đều dùng chánh niệm mà thu liễm cái Thần vi tế ngưng nhập vào trong Thận Mạng. Thận Mạng mà đắc được Thần này, chẳng khác nào Trung Thần gặp được Thánh Quân (Tinh Thần hợp nhất).
Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Dâm tâm, dâm thân, dâm căn không đoạn tuyệt tức bị rơi vào ma đạo, trải muôn ngàn kiếp không thể nào thoát được vòng sanh tử”. Người tu tâm pháp mà ba dâm không đoạn, khác nào nấu cát thành cơm, trải trăm ngàn kiếp vẫn là nấu cát.
Tu luyện xá lợi đã quy Trung cung, thì tóc trắng trở lại đen, răng rụng lại mọc, trí huệ quảng đại.
Năm bậc tịnh luyện:
1. Luyện Tinh hóa Khí trăm ngày.
2. Luyện Khí hóa Thần ba năm.
3. Luyện Thần hoàn hư chín năm.
4. Luyện hư hoàn vô liên tục.
5. Luyện vô hiệp Đạo gọi là tịch diệt. Tịch diệt là công phu cuối cùng, siêu xuất tam giới. Tam giới đây là cõi thứ ba vô sắc giới.
Tu Tiên có năm loại:
1. Nhơn Tiên, 2. Địa Tiên, 3. Quỷ Tiên, 4. Thần Tiên, 5. Kim Tiên.
THẾ NÀO LÀ THỦ TRUNG
Thủ trung là nhất niệm bất sanh, tịch nhiên bất động, thâm nhập vào cõi hư vô tịch diệt.
THẾ NÀO LÀ AN LƯ LẬP ĐẢNH
Dĩ Thần ngự Khí đúng Pháp Quy Tức, làm cho chân Khí lưu luyến gặp đặng chân Tinh, trong khi hô hấp, Thần Tinh Khí đã quy lư tự nhiên có sự huyền diệu như Vô Cực mà có Thái Cực (Khí Thần hợp nhất).
Chân Khí tuy tiềm tàng nơi Khí huyệt nhưng sau khi Khí sanh Tinh thì thuận hóa thành nguyên Tinh rồi mong mỏi hướng ngoại. Nếu để nó thuận tánh hạ lưu thì lấy gì làm chơn dược. Cho nên khi biết nó sanh thì phải Khí công để đem về Trung cung thì Thiên cơ tự hoạt động.
TRÍCH MỘT ĐOẠN GIÁC MÊ CA
…………………………………………
Ngọc Mâu Ni há dễ khinh truyền,
Kinh Bạch Tự dám đâu vọng tiết.
Địch không lỗ có duyên mới biết,
Đờn không dây vô phước khó nghe.
Rượu “Đề Hồ” chứa để đầy ve,
Say một cuộc bất tri thế sự.
Ngâm “Chỉ Huyền” vui cùng ông Lữ,
Đọc “Tỉnh Mê” say với ông La.
Kinh “Huỳnh Đình” tụng đọc Năm Ba,
Vô Bồng Tháp buồn xem Tạo Hóa.
Ngó Nam Lãnh vui màu tòng bá,
Nhìn Bắc Hà, rùa cá nhởn nhơ,
Chốn đơn phòng bày tỏ Huyền cơ,
Mặc dầu kẻ ngộ cùng không ngộ,
Có duyên mới gặp Tam Kỳ Phổ Độ,
Muôn đời còn Tử Phủ nêu danh
Ba ngàn công quả đặng viên thành
Đơn thơ chiếu hiển vinh Thiên tước
Chín phẩm sen vàng khai thấy Phật
Cửu Huyền thất Tổ được siêu Thăng.
Đạo Sư Minh-Nhân















.png)





















