Thánh huấn giao thừa năm Bính Đàn 1926
Thánh huấn giao thừa năm Bính Đàn 1926
Chỉ Đạo cho BÙi HÀ THANH
Chỉ Đạo cho BÙi HÀ THANH
Do sự hướng dẫn của thân phụ trong gia đình đạo, ông Bùi Hà Thanh bắt đầu trường chay năm 24 tuổi, ông thấm nhuần đạo lý của Đại Thừa khi tiếp xúc với Quan Phủ
Năm 28 tuổi Ông đốt Đại Hồng Thệ vào ngày 14 tháng 07, đến ngày rằm tháng 8 năm Tân Mùi 1931 ông được chỉ đạo tại nhà Quan Phủ.
Ông được chỉ đạo với sự hiện diện của Thân Phụ là ông Bùi Quang Huy và thân mẫu, trong khi ông được Quan Phủ chỉ đạo cặn kẻ từng chút, từ hơi thở, ông Bùi Quang Huy phân bì nói rằng: "Quan Lớn dạy nó kỷ quá, hơn chúng tôi nhiều. Với ai nấy ông chỉ biểu coi đây, làm vầy, làm vầy, không cắt nghĩa gì ráo để dể phân biệt trật trúng”
Ông đảnh lễ bái sư, Quan Phủ lật đật đứng lên hai tay cản không cho lạy và nói “ Con ráng tập luyện cho đúng phép, gìn giữ kỹ lưỡng. Chắng có gì nhiều, con cứ tưởng THẦY (Tâm chơn như) đừng rời. Ngày sau THẦY sẽ dạy Con trong TÂM dạy ra. Ông Thầy hữu hình này có ngày cũng bỏ xác chẳng còn gần nhau (Thầy Con hai thân vóc). Con cố gắn tìm cho được Ông THẦY vô hình … trong CON”. (gằn mạnh tiếng) “THẦY CON một vóc”.
Ông là người sau cùng được Quan Phủ chỉ đạo .
Đọc “CAO ĐÀI NGOẠI KHUYẾT”
Kính quý Huynh tỷ !
Nhân đọc lại cuốn “ Cao Đài Ngoại Khuyết “ có đăng trong Thư Viện này, và được biết do Ngài Giác Minh biên soạn, nhằm truyền đạt giáo lý Đạo cho kẻ hậu học đi sau không sai lạc chơn truyền. nhất là người có phần hành chỉ kiểu cần phải biết rõ . Thật là công đức to lớn , rất quý hoá thay !
Có nhiều vấn đề được bày tỏ , lời lẽ bình dân dễ hiểu . Song ở chỗ nói về 9 Phép Tu Tiên trong “ Cao Đài Ngoại Khuyết “ này không phải là do Ngài Giác Minh đặt ra mà trích ra từ sách “ Tánh Mạng song tu Vạn Thần khuê chỉ “ do Ngài Doãn Chơn Nhơn viết có từ thế kỷ 17 ( 1670 ).
Không biết là do lỗi biên tập và đánh máy hay ngộ nhận thế nào mà 9 phép tu Tiên trong “ Cao Đài ngoại khuyết “ có khác biệt .
Trong khi đó Tánh Mệnh Khuê Chỉ :
1/ ĐỆ NHẤT TIẾT KHẨU QUYẾT
HÀM DƯỠNG BẢN NGUYÊN, CỨU HỘ MỆNH BẢO
第 一 節 口 訣 : 涵 養 本 原 救 護 命 寶
2/ ĐỆ NHỊ TIẾT KHẨU QUYẾT
AN THẦN TỔ KHIẾU, HẤP TỤ TIÊN THIÊN
第 二 節 口 訣 : 安 神 祖 竅, 翕 聚 先 天
3/ĐỆ TAM TIẾT KHẨU QUYẾT
TRẬP TÀNG KHÍ HUYỆT, CHÚNG DIỆU QUI CĂN
第 三 節 口 訣 : 蟄 藏 氣 穴 , 眾 妙 歸 根
4/ ĐỆ TỨ TIẾT KHẨU QUYẾT
THIÊN NHÂN HỢP PHÁT, THÁI DƯỢC QUI HỒ
第 四 節 口 訣 : 天 人 合 發, 采 藥 歸 壺
5/ ĐỆ NGŨ TIẾT KHẨU QUYẾT
KIỀN KHÔN GIAO CẤU, KHỬ KHOÁNG LƯU KIM
第 五 節 口 訣 : 乾 坤 交 媾, 去 礦 留 金
6/ ĐỆ LỤC TIẾT KHẨU QUYẾT
LINH ĐƠN NHẬP ĐỈNH, TRƯỞNG DƯỠNG THÁNH THAI
第 六 節 口 訣 : 靈 丹入 鼎, 長 養 聖 胎
7/ ĐỆ THẤT TIẾT KHẨU QUYẾT
ANH NHI HIỆN HÌNH, XUẤT LY KHỔ ẢI
第 七 節 口 訣 : 嬰 兒 現 形, 出 離 苦 海
8/ ĐỆ BÁT TIẾT KHẨU QUYẾT
DI THẦN NỘI VIỆN ĐOAN CỦNG MINH TÂM
第 八 節 口 訣 : 移 神 內 院, 端 拱 冥 心
9/ ĐỆ CỬU TIẾT KHẨU QUYẾT
BẢN THỂ HƯ KHÔNG, SIÊU XUẤT TAM GIỚI
第 九 節 口 訣 : 本 體 虛 空, 超 出 三 界.
Ta so sánh có những chữ khác biệt rất rõ ràng như sau :
*- Trập tàng khí huyết chúng diệu quy càn.
Trập tàng khí HUYỆT chúng diệu quy CĂN.
*- Thiên nhân hiệp pháp thái dược quy hồ
Thiên nhân hiệp PHÁT thái dược quy hồ.
*- Càn khôn giao phối khử quản lưu kim
Càn khôn giao CẤU khử KHOÁNG lưu kim
*- Di thần nội diện đoan cúng minh tâm
Di thần nội VIỆN đoan CỦNG minh tâm…
( Các chữ in hoa màu đỏ là bản của “ Tánh mệnh khuê chỉ “ )…
Vì chữ đã khác biệt nên khi giảng ra cũng khác biệt nhau xa vậy ! Nói chung nghe qua thì cũng hợp lý nhưng đã chệch đi một hướng khác .
Thí dụ : “Trập tàng khí huyết chúng diệu quy càn” : chứa đựng khí huyết lưu thông quy về trái tim đi nuôi dưỡng não óc … Trong khi “ Trập tàng khí huyệt chúng diệu quy căn “ có ý nghĩa khác : Dấu chứa Dương thần ở nơi Khí huyệt ( Đan điền) để chúng diệu ( Tinh ) quy căn Nguyên Tinh, Nguyên khí ….
Hay câu : “Khử quản lưu kim “: giảng là một phần khí nặng đến ruột cùng là Thai Tiên, Thai Thánh ..! trong khi “ Khử khoáng lưu kim” đơn giản là loại bỏ chất khoáng chỉ giữ lại Vàng !
Khẩu quyết mà nói sai, chép sai , nghĩ sai , giảng sai sao gọi là Bí quyết đây ?
Thiện Ngộ đưa ra đây để các Huynh tỷ tham khảo.
Có dịp sẽ bàn thêm .
Thân mến !
Tánh đức của Đức Ngô Minh Chiêu hồi còn sanh tiền
TÁNH ĐỨC CỦA ĐỨC NGÔ HỒI CÒN SANH TIỀN.
***
Kiểu tu của Thầy là Tiên-Đạo, Nhơn-Đạo đi một lượt, nghĩa là vừa tu, vừa làm việc trả nợ đời, tới ngày Đạo thành thì Nhơn-Đạo cũng mãn.
Tu giữa chợ mà không ai biết.
TỬU, SẮC, TÀI, KHÍ không nhiễm, cư trần bất nhiễm trần.
Không trọng cái danh làm quan.
Không kể xác thân. Tu rồi, cái thân như chết chưa chôn.
Ngài thường nói :
“ THÂN NẦY CHẲNG KỂ, KỂ CHI DANH ”.
Không ham sự sang trọng.
Ngài thường nói : “ Chớ ham sang trọng khó theo Thầy”.
Ai nói xấu không giận.
Ngài nói :
“ VIỆC THỊ PHI COI NHƯ LÔNG NHẠN, AI CƯỜI MẶC AI”.
Ít hay chơi với kẻ giàu sang. Hay mến kẻ thấp hèn.
Ngài thường nói :
“ Tố phú quới hành hồ phú quới, tố bần tiện hành hồ bần tiện. Tố nào theo tố nấy. Thủ phận an bần. Ai biểu chơi với kẻ sang làm chi cho bị nó khi ”.
Không hay rước khách. Tánh ưa tu ẩn. Tuy ở chốn thị thiền mà ít ai biết chỗ ở của Ngài.
Không chịu tụ hội. Không ưa đông đảo.
Không chịu ai lạy lục. Không chịu ai tôn trọng.
“NHỨT HÀO VÔ PHẠM”.
Không chịu thọ lãnh lễ vật gì của ai.
Ngài nói :
“ Ở nhà cũng có thờ, để ở nhà cúng, đừng đem tới làm chi thành ra kiểu thầy chùa ”.
Không chịu phô bày và vẽ viên.
Ngài lập ra cái Đạo một cách rẽ-ròi cho mọi người đều tu được.
Không khoe-khoang cái Đạo. Người ta biết Ngài tu, ăn chay mà không hiểu
Ngài tu làm sao ?
Ngài hay hát câu :
“ KÍN NGOÀI RỒI LẠI KÍN TRONG” ( Xem Lịch sử ).
Tánh Ngài ít nói và không xen vô việc của ai.
Ngài dặn trong đệ tử của Ngài rằng :
“ ĐỨA NÀO HAY NHIỀU CHUYỆN THÌ TAO BỎ ” .
Tánh Ngài từ bi mà cứng-cỏi.
Ngài thường nói :
“ĐẠI-HÙNG, ĐẠI-LỰC, ĐẠI TỪ-BI ”.
Tánh Ngài vừa ý mỗi người.
Ngài nói :
“ QUÂN-TỬ TÁNH NHƯ THỦY ”.
“ Cao-Đài ứng hóa theo lòng chúng sanh.
Đố ai có biết cái danh Cao-Đài ”.
Ngài nói :
“ Mình tu mà đừng cho người ta biết mình tu, giữ bề ngoài như người thường ”.
Ngài dạy trong đệ tử rằng :
“ MÌNH ĐỪNG LÀM RA NGƯỜI NGU PHẨM ”.
Tuy ở chốn phiền ba : “ CÁC VIỆC THẤY, NHƯ KHÔNG THẤY, NGHE NHƯ KHÔNG NGHE.
GIỮ TÂM KHÔNG XAO ĐỘNG NHƯ NƯỚC ĐỰNG TRONG BẦU, CÁC VIệC ĐỀU KHÔNG.”
Trong các viêc làm, Ngài hay dè-dặt. Ngài hay nói :
“ TIÊN BẢO KỲ THÂN ”.
Ngài dạy trong đệ-tử Ngài :
“ PHẢI HẠ MÌNH NHỊN NHỤC, LÀM NHƯ THẦY TAM-TẠNG ĐI TỚI ĐÂU CŨNG LẠY HOÀI CHO XUÔI VIỆC ”.
Ngài hay biết ơn và hay lo báo ơn, đáp nghĩa.
Ngài hay làm âm chất, hay bố thí thầm.
Ngài nói : “ Mua ruộng trên Trời vững bền hơn ruộng dưới thế-gian”.
Bởi vậy nên tuy làm quan mà không dư dả như người ta,
TRỌN ĐỜI NGÀI GIỮ THANH BẦN.
Ngài hay nói câu :
“ HỮU PHƯỚC BẤT KHẢ HƯỞNG TẬN; mình có lộc Trời cho đừng hưởng hết, phải làm phước đặng để sau cho con cháu”.
Bình sanh hễ làm viêc chi một lần thì thôi, nên hư gì một lần, Ngài không chịu sửa đi, đổi lại.
Trong việc tu cũng vậy, Ngài không đổi ý. Đó là Ngài làm gương “ NHỨT TÂM ”.
Còn việc ăn uống rất thường.
Không hay ăn đồ chiên xào nhiều dầu và không chịu bày đồ ăn nhiều cách.
Tương, chao là gốc. Chuối sứ và đường thẻ là món tráng miệng thường.
Ngài nói :
“ Miễn ăn no bụng thì thôi ”.
Chỗ Ngài ở không chưng dọn,miễn cho sạch-sẽ thì thôi.
Ngài nói :
“ Chỗ nào cao trên bốn thước tây thì có thanh khí ”.
Chỗ Ngài ở để vài cái ghế ngồi tu, vài cái ghế ngồi ngủ và bàn ăn cơm, đơn sơ ít món vậy thôi.
Không chịu dọn nhiều chuyện.
Khi về nhà Ngài hay mặc đồ bô vải. Khi đi làm việc và đi chơi thì Ngài ăn mặc khăn áo như thường.
Ngài không chịu làm “ TƯỚNG ” như phần nhiều người tu khác.
Trong việc ăn mặc và trong thân hình, Ngài giữ một cách sạch-sẽ.
Ngài nói :
“ THÂN MÌNH CỦA MÌNH ĐỂ DƠ-DÁY VÀ LÈN XÈN, ĐI NÓI ĐẠO CÓ AI
THÈM NGHE ”.
………………….
THẬP THANH ĐIỀU
● Đàn Chợ-Lớn, ngày mùng 5 tháng 12 Nhâm-Thân ( 02-01-1933 )
1- Không nên thâu dụng của bá tánh.
2- Không nên dự vào việc quốc sự.
3- Không nên thốt đến Đạo nào.
4- Không nên niệm chú thư phù và chác thói tà mị.
5- Không nên bươi móc việc quấy và che việc phải của người.
6- Không nên buông lung tự tánh, phải xét những việc tội lỗi mà chừa.
7- Không nên gần kẻ bạo ngược, lung-lăng. Phải ẩn dật lo tu.
8- Không nên tham luyến hồng trần vinh hoa phú quí.
9- Không nên coi người giàu sang hơn kẻ nghèo hèn.
10- Phải giữ Đạo-đức, hiếu-nghĩa, trung-tín, liêm-sĩ, tiết trinh, từ-bi, chơn chánh.
MƯỜI ĐIỀU KHUYÊN CỦA ĐỨC NGÔ
Một khuyên giảm khẩu bớ con,
Hai khuyên chánh kỷ cho tròn hóa nhơn.
Ba khuyên giảm tánh giận hờn,
Bốn khuyên giữ lễ chớ lờn oai Tiên.
Năm khuyên kính mến người hiền,
Sáu khuyên đậy mắt lánh miền thị phi.
Bảy khuyên học chữ từ bi,
Tám khuyên Hành Đạo kịp kỳ Long-Hoa.
Chín khuyên suy xét gần xa,
Mười khuyên lập nết ôn hòa độ dân.
BÀI “ CHỐN BỒNG-LAI ” CỦA ĐỨC NGÔ
Chốn Bồng-Lai là nơi thanh-tịnh,
Thú chiều ưa trăng cảnh nước người.
Gió thanh quét sạch mùi đời,
Tình trong sơn thủy cuộc ngoài Càn-Khôn.
Lần qua hải chốn hầu môn,
Công danh biệt ngoại cầm tôn như nhàn.
Gậy lê dạo chốn Quảng Hàn,
Dấu kiều còn tạc Minh-Hoàng thuở xưa.
Hội đào một cuộc say sưa,
Mê man chẳng tám ngàn thừa xuân thu.
Trường sanh có thuốc nhiệm mầu,
Qua vàng sẵn nấu một bầu đơn sa.
Nghêu-ngao vui rạng yên hà,
Tối vào kiểng Thánh, sớm ra non Thần.
Trải qua mấy cuộc phong vân,
Tay nưng bầu cúc, chưn (chân) lần vừng mây.
Tòng reo dễ gió lung lay,
Giọng đờn thấp thoáng dựa tai đưa vào.
Lần qua khỏi vực bờ đào,
Cuộc cờ vô sự anh-hào dễ ghê.
Mượn chơn hoa thiểu lần về,
Tiếng vàng nắm đất thêm ghê anh hùng.
Mây giăng mấy thức giao-long,
Họa đồ cậy có Hóa-Công vẽ-vời.
Ba non trong của biển trời,
Gió hòa trăng rạng nước người như xưa.
Hoa thơm trăng tỏ tình ưa,
Suối đờn, tai đẹp, chim ca ý nhàn.
Lìa nơi Bệ ngọc, Đền vàng,
Lánh nơi phàm tục vui đàng Thiên-Thai.
Luyện mình chẳng nhiễm trần ai,
Linh đơn dồi luyện, Linh đài dựa nương.
Dạo chơi đến cảnh Nhạc dương,
Hềm vì phàm tục khôn đường lễ nghi.
Biết đâu ra khỏi tương tri.
Đồng tâm, đồng chí có kỳ thảnh thơi.
..............
BÀI KỆ (Thệ Nguyện)
Mới học Đạo Vô Vi phải thuộc 4 câu kệ như vầy :
1- Chúng sanh vô biên, thệ nguyện độ,
2- Phiền não vô tận, thề nguyện đoạn,
3- Pháp môn vô lượng, thề nguyện học,
4- Phật Đạo vô thượng, thệ nguyện thành.
Giải nghĩa nôm na ra ca cho dễ thuộc, vì học Đạo thì cái trí trung dung, nhàn lạc mới phải Đạo.
Một là sanh chúng hằng hà,
Dốc lòng cứu vớt, lòng Ta thề nguyền.
Hai là phiền não nối chuyền,
Nguyện thề đoạn tuyệt như thuyền ra khơi.
Ba là chí học chiều mơi,
Phép mầu sâu nhiệm thảnh thơi có ngày.
Bốn là Phật Đạo cao dày,
Nguyện thành chánh quả mới tày chí Ta.
( Chép theo Di bút của Thầy lưu lại )
.................
NHỮNG LỜI KIM THẠCH
CỦA ĐỨC NGÔ LÚC CÒN TẠI THẾ
***
Bần Đạo yên vui không mến khách,
Trau giồi tịnh tánh phục linh căn.
Nguơn Thần hiện xuất sanh sanh hóa,
Hỏi thử người tu có biết chăng ?
Chẳng nghe lời trái ý. Trái ý là sái ý thiệt của người tu hành. Chánh ý là giữ phép tu trì, vì sái phép tu trì gọi là trái ý.
Cứ một lòng, một dạ theo lời dạy buổi đầu. Tu trì đã được lâu ngày rồi thì nắm cứng một mối đó mà phăng tới hoài, làm được nhiều năm mới rõ hay.
Ai nói hay, biến biến, hóa hóa, diệu thuật các con chẳng nên tin mà lạc đường, sái ngõ, ăn năn mà khóc.
Ông đây nhờ tu một cách mà thôi, bao nhiêu hay của người khuyên Ông không nghe, nếu nghe thì cúi đầu phục tùng người rồi.
Các con phải ghi tạc vào trí.
Lời thật thà để lại các em và các Đạo hữu.
(Ngày 15/12-1931)
THẬP THỦ LIÊN HƯỜN
THẬP THỦ LIÊN HƯỜN
***
1. Nghĩ ở lâu ngày chẳng ích chi?
Tu hành cần mẫn phải từ bi,
Ta bà khắp chỗ đâu rằng Đạo ?
Đạo tại trong thân chẳng khó gì!
2. Khó gì giữ chặt tấm lòng bền,
Chẳng giận chẳng hờn Đạo mới nên,
Lẳng lặng trong veo dường thể nước,
Ấm no vừa đủ luyện đừng quên.
3. Đừng quên hớp khí bốn thời thanh,
Tý, Ngọ siêng lo, Mẹo, Dậu rành,
Buồn ngủ vì đầy bao tử nước,
Bỏ ngoài việc thế lúc ngồi khoanh.
4. Ngồi khoanh chuyển nhịp phép Cao Tiên,
Ba hiệp một giờ bản đạo thiền
Trí tưởng ơn Thầy năng tiếp độ,
Mắt nhìn ngọn lửa chớ đảo điên.
5. Đảo điên chẳng khác vượn xa nhành,
Chủ vắng trong nhà ai điểm canh?
Lục dục, thất tình xô xúi mãi,
Lâu ngày mòn chí bỏ tu hành.
6. Tu hành chẳng Phật cũng thời Tiên,
Công khó mải mê tánh mới hiền,
Nếu dễ thành Tiên Thầy khỏi dạy,
Tỉnh hồn cho chóng luyện cho siêng.
7. Cho siêng chớ để lạnh trong mình,
Thâu khí ngoài trời biến lửa tinh,
Mũi hít vào trong vừa đủ phải,
Tự nhiên lửa ấy khỏi thiêu hình.
8. Thiêu hình vì lửa cháy tưng bừng,
Phải biết lo lường bớt chuyển luân,
Xuôi cẳng, xuôi tay cách bớt lửa,
Cò queo ngon giấc chẳng còn hung.
9. Còn hung lửa ấy nợ tiền khiên,
Chóng chóng mua chim thả cá liền,
Xài phí nhín tiền làm phước kín,
Trại hàng gửi bạc thí hòm riêng,
10. Hòm riêng bố thí là cầu thọ,
Phải quấy mặc người đừng cãi cọ.
Tu luyện lâu năm rõ Đạo mầu.
Tiên truyền Tân Dậu Phủ Chiêu Thọ.






















