9 KHẨU QUYẾT TU TIÊN

“ 9 Khẩu quyết này “ có trong cuốn “ Tánh Mệnh Khuê Chỉ” được Nhân Tử Nguyễn văn Thọ dịch lại.

 Các bạn có thể vào xem trực tiếp và đối chiếu với Tập “Cao Đài Ngoại khuyết” nói đến để tham khảo

Trong hình :

Khẩu khuyết 7 : Anh Nhi hiện hình xuất ly khổ hải

Ghi âm nhầm : khổ ải ( lỗi in ấn ).

Nhờ tham khảo ta thấy rõ Khẩu quyết : “Càn Khôn giao cấu khử khoáng lưu kim” , trong Cao Đài Ngoại Khuyết ghi là :  “ ….Khứ quản lưu kim” ! …., rồi : “ Trập tàng Khí huyệt, Chúng diệu quy căn” ghi là : “ Trập tàng Khí huyết….”…














Share:

Quan niệm về Linh hồn




Share:

Lời giải về “ THIÊN NHÃN”

 CHỈ LÀ QUAN ĐIỂM !.

 Chúng ta đã biết từ năm 1926, trong “Thánh ngôn hiệp tuyển “ Thầy đã có dạy :

“ ..Nhãn thị chủ tâm

Lưỡng quang chủ tể

Quang thị thần

Thần thị Thiên

Thiên giả Ngã dã ..”

Đến năm 1937, khi ra kinh “Đại Thừa Chơn Giáo” Những câu đó Thầy đã nhắc lại nhưng là: 


                    Nhãn thị chủ tâm

                    Lưỡng QUAN chủ tể

                    QUAN thị thần

                    Thần thị Thiên

                    Thiên giả Ngã dã…


Ở đây xin miễn bàn những câu Thầy dạy năm 1926  ( chữ QUANG  ).

 Thiện Ngộ chỉ đưa ra ý riêng của mình nhằm bảo vệ quan điểm trong Đại Thừa Chơn Giáo. ( cả 2 chữ QUAN đều không có G).


Trước hết TN nghĩ như là một công án để giải thích tại sao vẽ “ CON MẮT” mà thờ Thầy ?


1- Câu “ Nhãn thị chủ tâm.”:

Tâm là chủ, biểu hiện nơi Con Mắt

       Trong bài Thầy dạy :…

  “ Trước dạy rồi : Nhãn thị chủ tâm

    “Tâm là chủ tể cao thâm

     “Quang minh chánh đại muôn năm vững vàng.


 Tiếp theo là : 

       “ Phải rõ biết : Lưỡng quan chủ tể

       “Quan thị thần, Thần thể thị Thiên

      “ Thật là diệu diệu huyền huyền

      “ Trời người có một chẳng riêng khác gì ..


2- “ Lưỡng Quan Chủ tể” :


(Đã biết Tâm là Chủ, biểu hiện nơi Con Mắt),

Còn làm chủ cả sự quan sát bên ngoài và xem xét bên trong.


3- “Quan thị Thần”:

   

Sự quan sát bên ngoài và sự quán xét lại bên trong  đều do Tâm động dụng mà biết cho nên nói  : Quan thị Thần.

   (Tâm là Chủ tể , mà Tạng Tâm chứa Thần , khi động dụng nơi Con Mắt gọi là : “ Thần cư tại Nhãn “ là Thấy biết, Thấy biết với Thần không hai.)


4- “Thần thị Thiên”:


     Thần là Trời đó có ngoài Ta đâu


5” Thiên giả Ngã dã!”:


    Diệu huyền mọi lẽ cao sâu

    Trởi kia Ta vậy nhiệm mầu công phu.


Thân mến.

Thiện Ngộ.

Share:

Đại đạo luận văn

 ĐẠI ĐẠO LUẬN: ĂN CHAY

     Tác giả: Đạo Trưởng Thiên Huyền Minh.
     Người đời nhứt là các nhà thông minh đều cho đồ chay không bổ bằng đồ mặn, người ăn chay không mập mạnh và đủ sức khỏe để làm việc bằng người ăn mặn và không sống lâu được. Nếu có lấy thuyết:các loài ăn cỏ như voi, trâu bò ra để làm bằng cớ thì các bậc ấy cho rằng đó là loài có bộ phận tiêu hoá khác hơn loài người nên chúng mới to lớn và mạnh. Nếu có lấy thuyết Bác Ái ( nên yêu loài vật chớ nên sát sanh) thì được trả lời: ”Trời sanh vật để dưởng Nhơn” rồi cho lý luận như vậy là đúng nên cứ đua nhau tìm món ngon vật lạ nơi các loài thú để thỏa thích khẩu vị của mình.
     Nhưng theo thiểu kiến và sự kinh nghiệm của tôi thì tôi thấy có nhiều người tu đã trường chay đôi ba chục năm rồi, có người vẫn ăn Ngọ thời mà phần đông là người lao động nhưng vẫn mạnh dạn và làm việc nặng nề như thường. Lại nữa người ăn chay tuy không dùng thịt cá nhưng vẫn sống mạnh giỏi,còn người ăn mặn không thể nào ăn toàn thịt cá không đặng mà cần phải ăn những món ấy với cơm hay bánh mì cùng rau cải và trái cây. Vậy thì chất nào hoàn toàn bổ, lại nữa bắt hai con thú : một con ăn toàn đồ chay = lúa, đậu, cỏ (con bò, bồ câu, cu đất..) và một con thú ăn thịt như con diều, con ó đem làm thịt để ăn chúng thì ta sẽ thấy thịt của con ó sẽ không ngon (tanh ), tất nhiên không bổ và ngon bằng thịt bò, bồ câu. Đây là bằng chứng chỉ rằng đồ chay có nhiều chất bổ và ngon, nên khi vào mình con thú nó hoá ra chất làm cho thịt con vật đó có nhiều chất bổ và ngon hơn,nhưng đến khi thịt con thú ấy sang qua thịt con thú khác thì nó bớt đi chất bổ và ngon hơn của đồ chay, do vậy thịt con thú sau phải tanh, không ngon, tất nhiên ít bổ.
          Lại đến khi ta bị đau thì cấm dùng thịt cá, mà buộc phải ăn cháo với đường hoặc muối mà thôi.Những thuốc uống cùng thuốc tiêm để trị bệnh toàn lấy trong chất cây mà ra, như vậy có phải đồ chay bổ hơn đồ mặn không. Nếu nói thịt cá bổ hơn đồ chay sao lúc đau không ép chất thịt cá lấy mà uống hay tiêm cho mau hết bịnh mà chỉ dùng thịt cá khi mạnh, có người đau vừa bớt, tới cháo thịt cũng không dám ăn vì sợ trúng bịnh lại là tại sao? Như vậy thịt cá có bổ hơn rau cải đậu chỗ nào đâu? Dùng chất cây để trị bịnh , ăn chay lúc đau mới khá, khi mạnh thì mỗi bửa ăn đều dùng đồ chay trộn với thịt cá mới sống đặng rồi cho là đồ mặn bổ hơn đồ chay, có phải mình mâu thuẫn lấy mình không? Còn nói trong đồ chay thiếu chất bổ,phải ăn thêm thịt cá mới đủ chất bổ mới sống được vậy tại sao loài khỉ có bộ phận tiêu hoá và hình tích rất giống người nhưng nó có ăn thịt cá đâu mà nó vẫn mạnh và sống dai, trâu bò, voi, lạc đà, ngựa nai .v..v..chỉ nhờ ăn cỏ mà được lớn con và làm công việc rất nặng thì há không phải là cây cỏ rau đậu có đủ chất bổ, nếu nói không hơn thì cũng bằng với thịt cá. Lại nữa, các loài ăn cỏ thì hiền từ, các loài ăn thịt thì hung dữ, như vậy có phải đồ chay bổ cho xác thân mà còn bổ cho tánh tình tức là linh hồn nữa. Nên con người muốn hiền từ, người muốn tu cần phải ăn chay hơn ăn mặn vì những lý do sau đây :
     1/-Vì Lòng Bác Ái : Tất cả loài vật cùng người đều do Tạo Hoá sinh ra, chúng nó cũng có linh hồn có trí khôn, cũng biết đau đớn như người,tức nhiên loài vật là Em của ta, lẽ nào anh mà ăn thịt em cho đành , chúng nó cũng có tình chồng vợ, nghĩa cha con, cũng đau buồn như ta khi bị phân rẻ.
     2/- Vì Sự Tấn Hoá của loài vật: Loài vật sinh ra là để tấn hoá cũng như loài người,chúng nó cũng ham sống sợ chết, biết lo chạy trốn khi loài người ỷ sức mạnh rượt bắt giết chúng nó và kêu la khi sắp chết, nên người có lòng hiền từ không đành lòng ăn. Thầy Mạnh Tử cũng có nói “thấy con vật kêu la ta không đành ăn nó”. Đó là câu mà Thánh nhơn ở Đạo Nho khuyên ta phải ăn chay vậy.
Con vật nào sống lâu cũng khôn ngoan hơn lúc nhỏ, đó là sự tấn hoá của linh hồn nó và kiếp sau của nó sẽ tấn hoá hơn kiếp hiện tại.
     3/- Vì Muốn Xa Lánh Sự Dâm Dục: Loài vật sinh ra là nhờ sự giao cấu của giống đực và cái nên thịt của chúng chứa toàn sự kích dục. Người ăn vào chất thịt đó để tạo thành máu thịt của người thì khiến người ưa sự dâm dục, mà dâm dục nhiều thì hại cho sức khỏe làm cho người mau tiều tụy, đây là điều đố kỵ cho người tu, vì người tu cần phải tuyệt dục (lý tuyệt dục sẽ nói sau) và vì lý nầy mà người trường chay không uống sửa và ăn trứng của loài gia cầm.
     4/-Vì Muốn Bổ Dưởng Linh Hồn hơn Xác Thịt: Linh Hồn là tâm tánh của con người,nó vốn là linh quang của Đức Chúa Trời do chất Tiên Thiên Khí sinh ra nên vô hình, xác thịt do Hậu Thiên Khí sinh ra nên thuộc hửu hình. Còn loại rau cải chỉ hút tiên thiên khí của Trời Đất mà hoá sanh và lớn lên không vì sự giao cấu mà sinh sản,nên người ăn nó thì ít thích sự dâm dục và được bổ về phía Tiên Thiên (linh hồn) nhiều hơn phía Hậu Thiên (xác thịt). Lại tiên thiên thì rất cần cho người tu về bực Tối Thượng Thừa (sẽ có bài nói rõ về chỗ này).
     5/- Vì Lý Tự Nhiên của Bộ Tiêu Hoá: Loài người có bộ tiêu hoá từ móng tới răng cùng ngủ tạng đều giống của con khỉ là loài ăn trái cây (chớ không giống bộ tiêu hoá của loài ăn thịt như cọp, chó, mèo và có móng nhọn, răng nhọn). Vậy theo lý tự nhiên con người là giống ăn rau cải cây trái chứ không phải là giống ăn thịt cá, nhưng tại người tập nhiểm ăn đồ thịt cá từ nhỏ cho đến lớn nên quen miệng rồi cho thịt cá là bổ, là ngon. Cũng như người bắt khỉ rừng về nuôi, tập cho chúng ăn cơm cá, hút á phiện sau đó nó quen và ghiền vậy, chứ nếu ai thử ăn rau cải chừng ít tháng rồi ăn thịt cá trở lại sẽ thấy chúng có mùi hôi tanh và nếu muốn ăn mặn lại thì phải tập ăn ít bửa sau mới biết ngon, hết tanh.
     6/- Còn Theo Lý Thiên Nhiên: ( khoản nầy chỉ dành riêng cho bực Tối Thượng Thừa): Hồi đời Thượng Cổ khi Trời Đất mới sanh ra loài người thì con người chỉ biết lo tu nên không ăn uống, nhưng lần lần vì lòng ham muốn vật chất khởi động con người mới biết đói và thèm ăn, lúc đầu chỉ ăn hoa quả sau ăn ngủ cốc và rau cải rồi tới ăn thịt thú cầm và phải chịu sa đọa khổ cực nhiều điều khó trở về căn bổn nên người tu muốn trở lại cựu ngôi thì phải đi trở ngược lại là bắt đầu không ăn mặn, chỉ ăn chay, sau giảm lần đến ăn hoa quả riết lần tới không còn ăn gì nhưng phải để tự bộ phận cơ thể giảm lấy nó chứ người mới tu không nên ép xác mà phải hao tổn và chết mất (Phật giáo có pháp nhịn đói uống nước tên là Pháp Vô Uý nhịn đói mỗi lần 7 ngày. Ba tôi áp dụng pháp nầy lần thứ nhất là 9 ngày , lần thứ hai 18 ngày , lần thứ ba 36 ngày. Bạn đạo của ba tôi mỗi lần nhịn đói uống nước đúng 100 ngày và vẫn làm việc đồng áng như mọi người).
     Bộ phận con người cũng như bộ máy xe hơi, đồ ăn tức là dầu xăng, nếu xe chạy nhiều thì tốn dầu xăng nhiều, xe chạy ít thì tốn ít dầu, cũng như người hoạt động (kẻ lao động) thì phải ăn nhiều, người làm việc ít thì ăn ít, ban đêm ngủ thì ít đói hơn ban ngày, còn đêm nào thức làm việc thì sẽ thấy đói và cần ăn nếu không sẽ thấy xót ruột khó chịu.Còn chiếc xe không chạy mà được lau chùi thường thì xe sẽ lâu hư lại khỏi tốn dầu xăng hàng ngày. Người Tu cũng vậy, nếu được ngồi một chỗ thiệt tịnh định thì như xe hơi không chạy khỏi hao máu huyết. Nếu biết công phu nội công tứ thời lau chùi ngũ tạng lục phủ cho được tinh vi thì cũng như bộ phận xe hơi được lau chùi hằng ngày thì không hư, nếu biết thêm rút Tiên Thiên Khí của Trời mà bồi bổ cho thân mình cũng như loài cây vậy thì cần gì phải ăn uống cho nhiều.Đến chừng tu được có nước Bát Nhả Ba La Mật mà người thường gọi là nước Cam Lồ của Phật Quan Âm thì người tu sẽ nhờ nước ấy để bồi bổ cho ngũ tạng và làm cho các vi tế bào trong thân người đều được tươi nhuận mà ta thường nghe là nước Cam Lồ để cứu chúng sanh
( chúng sanh tức là các vi tế bào). Đến lúc nầy thì người tu không còn biết đói nên khỏi ăn mà vẫn mập mập ( đoạn nầy có nhiều đoạn bí yếu khó giải rành đặng).
     Có người than rằng: ”ăn chay thường xót ruột lắm nên không ăn Đặng” đó là tại sao? Ấy là tại thịt cá lâu tiêu hơn đồ chay nên bao tử của người ăn mặn khi có đồ ăn phải nhồi ít nhứt là 3 giờ thì đồ ăn mới tiêu hết,bây giờ ăn đồ chay vào thì chừng 2 giờ trở lại là tiêu hoá hết (vì đồ chay mau tiêu hơn thịt cá) nhưng bao tử nhồi thêm cả giờ nữa (vì bao tử chưa quen sự thay đổi) thì tất nhiên ta thấy xót ruột và khó chịu, chảy nước dãi vì nước vị toan trong bao tử còn dư nhiều, rồi lại thêm ý thèm đồ mặn xen vào nữa, làm cho ta để ý thêm nhiều vào bộ tiêu hoá nên thấy khó chịu nhiều, chớ nếu ăn chay quen rồi bộ tiêu hoá sẽ điều hoà trở lại theo sự dễ tiêu của đồ chay thì ta sẽ không còn thấy xót ruột, khó chịu nữa.Vậy người mới ăn chay cần phải ăn nhiều bữa,hể hơi đói thì ăn thêm sẽ hết xót ruột ngay (ăn bánh, trái cây). Khi mới ăn chay trường có sự thay đổi trong cơ thể, bớt chất Hậu Thiên thêm chất Tiên Thiên nên xác thân trong mấy tháng đầu có phần tiều tụy hơi mét xanh (có người khỏi bị sự nầy) nhưng khi ăn quen rồi chừng 3 hay 4 tháng sắp lên sẽ thấy lợi sức trở lại và nhiều khi đỏ da thắm thịt mập mạp hơn hồi ăn mặn cùng ít bịnh hơn,Nếu ăn được cơm gạo lức, gạo vo sơ nấu ăn ngọt và bổ hơn vo gạo (gạo phải nấu hai lần) hay uống nước cám rang thì sẽ khỏi sợ mất sức vì chất cám rất bổ.
     Ăn Chay muốn Khỏi Đau và được Điều Hoà trong Cơ Thể thì cần biết sự Thạnh Suy của Ngũ Tạng và Cơ Thể theo thời tiết trong năm, cùng sự sanh khắc của ngũ hành và ngũ tạng.
     Theo Lý Đạo nghĩa là theo lý thiên nhiên thì: Âm Dương hoà hiệp sanh ngũ khí là vàng- xanh- trắng- đỏ- đen; ngũ khí sanh ngũ hành là kim- mộc- thủy- hỏa- thổ; ngũ hành sanh ngũ tạng là Tỳ (thổ), thận (thủy) tâm (hỏa), phế (Kim), cang ( mộc). Ngũ Tạng lại sanh Ngũ Khí để hiệp lại hoá Tinh và Huyết để bồi bổ và nuôi dưỡng cơ thể con người.
Nên hể ngũ tạng mạnh thì cơ thể mạnh,ngũ tạng suy thì cơ thể suy, đồ ăn vào là để bồi bổ cho ngũ tạng trước nhứt, vậy người tu cần phải biết những món ăn nào để bổ cho tạng nào và còn phải biết sự sanh khắc của mỗi tạng theo mùa của Trời Đất cho khỏi đau như:
     1/-Mùa Xuân thuộc Mộc
Tạng Cang, Đởm vượng thì tạng Tỳ-Vị suy vì Mộc khắc Thổ, những chất có vị Chua và màu Xanh phải ăn ít vì chất nầy bổ Cang và Đởm (gần, mật). Nên ăn vị Ngọt và màu Vàng nhiều vì chất nầy bổ Tỳ và Vị đặng cho quân bình ngũ tạng thì khỏi bịnh.
     2/-Mùa Hạ thuộc Hoả tạng TÂM
Tiểu trường vượng thì tạng Phế với Đại trường suy vì Hoả khắc Kim, nên vị Đắng và màu Đỏ phải ăn ít vì chất nầy bổ Tâm và Tiểu trường. Nên ăn vị cay và màu trắng nhiều vì các chất nầy bổ Phế và Đại trường đặng cho tạng Tâm và Phế được hoà bình. Mùa Hạ thì Thổ cũng vượng nên Tỳ-Vị cũng vượng thì Thận cùng Bàng quang suy vì Thổ khắc Thuỷ,nên vị Ngọt và màu Vàng ăn ít vì chất nầy bổ Tỳ Vị, nên ăn chất Mặn.màu Đen nhiều vì chất nầy bổ Thận đặng cho Tỳ và Thận được hoà bình. Còn mỗi mùa Thổ vượng 18 ngày,chia ra ba tháng thì mỗi tháng có 6 ngày Kỷ Thổ thì những ngày nầy vị ngọt và màu vàng ăn ít, vị mặn và màu đen ăn nhiều.
     3/- Mùa Thu thuộc KIM,
Tạng Phế và Đại trường vượng thì Cang và Đởm suy vì Kim khắc Mộc,vị Cay và Trắng ăn ít vì chất nầy bổ phế, phải ăn nhiều vị Chua và màu Xanh nhiều để bổ Cang.
     4/- Mùa Đông thuộc Thuỷ
Tạng Thận và Bàng quang vượng,tạng Tâm và Tiểu trường suy vì Thuỷ khắc Hoả, vị mặn và màu Đen ăn ít vì chất nầy bổ cho Thận, nên ăn chất có vị Đắng, màu đỏ nhiều cho bổ Tâm đặng cho Tâm và Thận được hoà bình.
     Đây là nói về người có ngũ tạng còn mạnh, còn những người thèm ăn ngọt hoặc chưa cũng còn tuỳ theo sự thạnh suy của mỗi tạng.

            TRƯỜNG THIÊN.
Người ở Thế mãng lo ăn mặc,
Chịu đoạ đầy chôn chặt biển mê;
Khó mong cựu vị hồi về,
Cũng vì thịt cá nặng nề trược bao.
Người với Vật đồng nhau sanh trưởng,
Cùng một Cha nuôi dưỡng lớn khôn;
Cũng đồng có xác có hồn,
Cũng đồng Tạo Hoá sanh tồn dưỡng nuôi.
Vật cũng biết buồn vui đau khổ,
Cũng vợ chồng cũng chỗ cha con;
Thú cầm cũng muốn sống còn,
Để mà tấn hoá,để bòn cội căn.
Sao người nở giết phăng ăn thịt,
Sao anh đành làm thịt em khờ;
Khiến nên gặp cảnh bất ngờ
Trả vay lộn kiếp, bao giờ mản căn.
Ăn thịt thú khó năng ngộ tánh,
Bị Hậu Thiên khó lánh biển Trần;
Thú cầm dâm dục lần khân,
Khiến người ăn nó tham, sân, dục tình.
Người tu cần xét mình cho kỹ,
Ráng bền lòng theo lý đạo mầu;
Trường chay giữ đặng bớt sầu,
Bớt câu ân ái, bớt rầu tinh suy.
Bởi thảo mộc không vì vật chất,
Rút Tiên Thiên làm vật nuôi mình;
Ăn vào được bổ hồn linh,
Vì tiên thiên khí hoá sanh tinh thần.
Người thiệt bổn về phần ăn Lạt,
Móng cùng răng giống tạc khỉ nhiều;
Sau vì ham muốn đâm liều,
Ỷ mình trí hoá, bày điều nọ kia.
Tánh năng tập khó lìa khi mến,
Thịt ăn quen rù quến thói tà
Mê Trần đành bỏ Cha già,
Nếu không cải hoá khó mà về sau.
Tu cần phải tương rau hẩm hút,
Mể cốc dùng lánh đục tầm trong;
Ngũ hành sanh khắc nằm lòng,
Bốn mùa ngũ tạng phải phòng món ăn.
Xuân thuộc Mộc nên Cang Đởm khởi,
Cử món chua sợ bởi hại Tỳ;
Vật màu xanh cũng bớt đi,
Ăn nhiều chất ngọt bổ ni tạng Tỳ.
Mộc khắc Thổ theo thì lý Chánh,
Dùng màu vàng để tránh phạt Tỳ;
Hạ thì Hoả vượng cung Ly,
Đại trường cùng Phế phải suy ít nhiều.
Vật cay trắng dùng nhiều bổ Phổi,
Cử Đắng-Hồng khỏi lỗi tạng Tâm.
Hạ thêm vượng tạng thứ năm,
Làm cho Thận thủy suy thâm ít nhiều.
Ngọt và Vàng ăn nhiều có hại,
Mặn, màu Đen dùng lại rất nên;
Thu sang Phế lại vượng lên,
Đởm Cang phải chịu lệch chênh ít nhiều.
Kim khắc Mộc là điều nên biết,
Trắng và Cay dùng thiểu đôi phần;
Xanh chua thì phải ân cần,
Khỏi lo cang đởm chịu phần khắc sanh.
Qua mùa Đông,Tâm đành chịu lép,
Cùng Tiểu trường bị ép suy dần;
Bởi vì Thận vượng đôi phần,
Màu Đen chất Mặn phải cần ít ăn.
Muốn bổ Tâm dùng tăng chất Đỏ,
Đắng ăn thêm hòng có bổ tim;
Như vầy khỏi sợ Hoả chìm,
Bốn mùa ngũ tạng khỏi điềm hưng vong.
Chất đại bổ tìm trong ngũ cốc,
Với ngũ màu lược lọc Tiên Thiên;
Giúp nuôi kẻ sĩ nhà thiền,
Khỏi lo bịnh hoạn vì duyên Chay Trường.
                    THI.
Chay trường đại bổ bởi tiên thiên,
Ngũ cốc tương chao giữ mối giềng.
Thịt cá tôm cua thêm khổ Hải,
Muối dưa lê-hoát (rau cải) dưởng hồn nhiên.
Trả vay nợ thế cho tròn đủ,
Luyện đạo nhờ tinh, khí hạo nhiên;
Khổ cực kiếp nầy sau khỏi quả,
Trở về Tiên cảnh hưởng thiêng liêng.     C.H.T.

Share:

Quan niệm về Thần và Hồn

Quan niệm về Thần và Hồn
Share:

Đạo Vô Vi ít dùng Đồng Cốt (đồng tử)

 Đạo Vô Vi ít dùng đồng cốt (đồng tử)

Ngày trước Đức Ngô có dùng Đồng Tử Ngưng để cầu cơ, về sau này Đồng Ngưng sanh sự mượn tiền bạc, nên Đức Ngô giận đuổi đi, có cho 30 đồng. Đức Ngô có nói về quan điểm của Ngài là Đạo Vô Vi ít dùng Đồng Cốt …!

Mời các bạn xem di bút của Đức Ngài còn để lại , hình chụp hơi khó đọc .
TN xin chép lại Di bút để dể đọc :

@@@
“…
Ráng mà chèo chống mấy hồi nạn tai.
Bền lòng mới thấy Thiên Thai
Là nơi quê cũ ngày rày chầu Cha
Ngày nay con trẻ cách xa
Vì chưng phải đoạ độ dân buổi này.
_____________
1929.
-Phòng ý cẩn tâm
-Tam tài tị trần ai
( Phải lo gìn giữ chi, mình biết tinh khí thần thì đừng lo việc đời )
-Báo ân châu túc
( Phải lo đền ơn cho đủ trọn )
-Tứ thời thường dụng
( Tứ thời nắm chặc )
-Thỉ chung như nhứt
( Khi trước làm sao, đến cuối cùng in như một cách ).
Năm 1929 Thầy dạy vậy rồi mới cho thằng Đồng Ngưng sanh sự mượn tiền bạc, rồi ông giận ông đuổi nó đi, có cho số bạc 30$. Rồi ông định thà nuôi con mình tốt hơn vì mình cũng nghèo. Thế gì tên đồng ấy một ngày một sanh biến, vì nó càng ngày càng đổi tánh. Thôi, từ giã nó. Bởi cái đó không dùng nữa. Vì Đạo Vô Vi ít dùng đồng cốt. Có dùng để mà tu thì tốt, Thần Tiên Thánh Phật giúp sức cho người thì vì chỗ tin cậy sự thật, chẳng có dối giả . Chớ thằng đồng Ngưng ăn chay nhỏ lớn, mà sự tu thì không, nên phải ngừa nó ra. “
@@@



Share:

Đạo kinh


Share:

Bồ Tát chỉ ngồi để thấy...

 Bồ Tát chỉ ngồi để thấy...

(Chuyện Cái Kén Cuả Con Bướm)

Một người nọ nhìn thấy cái kén của con bướm. Sau đó, anh thấy một cái lổ nhỏ xuất hiện. Anh ngồi chăm chú theo dõi con bướm trong vài giờ đồng hồ và thấy nó cố gắng vùng vẫy tìm cách chui ra ngoài qua cái lỗ nhỏ đó. Rồi dường như nó không có thêm một tiến triển nào nữa. Trông cứ như thể nó đã làm hết mức có thể rồi và không thể xoay xở gì thêm được.


Thấy tội nghiệp nên người đàn ông quyết định giúp con bướm. Anh lấy một cái kéo và cắt cái kén. Con bướm dễ dàng thoát ra. Nhưng nó có một cái thân căng phồng và đôi cánh nhỏ bé, teo quắt. Thế là, con bướm đó sẽ phải bỏ ra suốt cả cuộc đời nó chỉ để bò trườn với cơ thể sưng phồng và đôi cánh co lại. Nó không bao giờ bay được...


Cho nên Quy tắc thứ ba của người Ấn độ : "Trong mỗi khoảnh khắc mọi sự đều bắt đầu vào đúng thời điểm".


Người đàn ông tốt bụng đã không hiểu rằng chiếc kén chật hẹp và sự vùng vẫy của con bướm để chui qua được cái lỗ nhỏ ấy chính là cái cách mà Tạo Hóa buộc chất lỏng trong thân con bướm chảy vào cánh để sẵn sàng cho nó có đủ sức mạnh để cất cánh bay...


Vì vậy, đừng bao giờ tin vào quan niệm Bồ Tát độ mình cả, nếu Bồ Tát đến độ mình tức là Bồ Tát can thiệp vào việc mình cần phải làm là để thoát ra khỏi cái kén (thoát khỏi vô minh) chính mình là người cần phải mở ra mọi cái mà mình đã trói buộc vào, không có Bồ Tát nào làm thay cho mình...


 Quan niệm Bồ Tát cứu độ bị hiểu sai kiểu như người mẹ giúp con " thôi con đừng đánh vần để mẹ đánh vần cho... Con đừng làm toán để mẹ làm toán cho...vân vân...và vân vân..."


Bồ Tát chỉ ngồi để thấy, để xem mình đau khổ như thế nào và thoát khỏi đau khổ như thế nào... mà tâm Ngài vẫn hoàn toàn bất động, đó mới chính là Bồ Tát chân chính nhất.


Qua câu chuyện trên, con nhộng chỉ cần đợi thêm một chút nữa, nó có thể tự vùng vẫy thoát ra khỏi cái kén, thì nó mới đủ sức mạnh cất cánh bay cao... cũng như con người ta cần phải chịu đựng đau khổ them một chút nữa thì mới có được bài học Giác Ngộ cho chính mình... Thế cho nên, Bồ Tát chỉ khai thị mà không có cứu độ... khai thị cho mọi người thấy ra mọi cái đã có sẳn nơi mỗi người, và để mọi người biết tự trở về với chính mình...


Trong Phật Giáo không có quan niệm có người khác cứu độ... đừng xin xỏ mong cầu mà trở thành mê tín...Đức Phật dạy, Pháp hộ trì người sống đúng Pháp, thuận Pháp... Những người sống thuận Pháp, khi gặp chuyện thì tự động có Chư Thiên hộ Pháp hộ trì... Cũng như một người sống đúng tốt thì được nhiều người tin tưởng giúp đỡ... Chân lý chính là Thực Tế chứ không phải ảo tưởng ...


Thiền sư Viên Minh
Share:

Của Mình - Của Người

 Của Mình - Của Người 


Xưa có một cô gái mồ côi cha mẹ, không ai nuôi. Cô phải đi ăn xin ngoài chợ. Tối lấy chiếu quấn nằm ngủ. Một hôm nghe nói Rằm Tháng Bảy cúng dường Tam Bảo có phước lắm, cô tự nghĩ làm sao mình tạo phước để khỏi nghèo khổ nữa.
Hôm đó xin được có hai xu, cô muốn cúng cái gì mà chư Tăng trong chùa đều hưởng được hết. Nghĩ vậy cô mua hai xu muối, đem vô chùa năn nỉ vị nấu cơm: "Con xin được có hai xu để mua muối, xin được cúng hết chư Tăng trong chùa, mong người giúp cho". Vị ấy liền bỏ nắm muối của cô vào nồi canh to, thế là chư Tăng đều được hưởng đầy đủ. Bẵng đi một thời gian dài, cô cũng không còn nhớ chuyện cúng
muối nữa.
 
Lần lần lớn khôn, cô càng xinh đẹp lạ thường. Khi đó trong triều đình nhà Vua muốn chọn người làm vợ Thái Tử nhưng thấy mỹ nhân nào Thái Tử cũng từ chối. Vua ra lệnh cho các quan tìm người nào Thái Tử vừa ý sẽ được trọng thưởng. Bấy giờ một ông quan đi ngang vùng đó, thấy trên trời có vầng mây đỏ, ông nghĩ nơi đây chắc có dị nhân phước lớn.
Giờ trưa, trên đường trở về, ông thấy cô bé khoảng 16 tuổi đang trùm chiếu ngủ. Ông đến gần nhìn, bất chợt cô bé thức dậy tốc chiếu ra. Thấy người con gái đẹp đẽ phi thường lại sống đầu đường xó chợ như vậy, ông tội nghiệp đem về nuôi. Cô được cho ăn mặc dạy dỗ đàng hoàng, tới năm cô 18 tuổi ông dẫn đến trình nhà Vua. Vua gọi Thái Tử lại, vừa thấy cô bé Thái Tử đẹp lòng ngay. Cô được Đông Cung Thái Tử cưới làm vợ. 
 
Khi Vua băng hà, Thái Tử lên ngôi vua và cô bé trở thành Hoàng Hậu. Khi làm Hoàng Hậu cô cứ nghĩ, không biết mình đã làm gì mà  được phước thế này. Chừng ấy mới nhớ chắc do việc cúng muối năm xưa mà ra. Một hôm, Hoàng Hậu sắm đủ thứ vật dụng sang trọng truyền chở vô ngôi chùa ngày xưa. 
 
Nhưng lúc trước chỉ với hai xu muối của cô bé ăn xin, mà thầy trụ trì nói bữa nay có đại thí chủ đến cúng dường, bảo chư Tăng đánh chiêng trống đón. Bây giờ Hoàng Hậu đem nhiều tài vật đến nhưng thầy trụ trì không đánh chuông trống đón. 
Lấy làm lạ, Hoàng Hậu gặp thầy trụ trì hỏi "Thưa Thầy, ngày xưa con là đứa ăn mày, chỉ cúng dường có hai xu muối mà nghe chuông trống đánh rình rang. Ngày nay, con là Hoàng Hậu cúng cả xe trân bảo mà không nghe chuông trống gì
hết?”.
Thầy đáp:
"Ngày xưa hai đồng xu rất quý vì đó là mạng sống của con. Muốn cúng chùa con phải nhịn đói, nên hai xu ấy lớn vô cùng. Ngày nay con là Hoàng Hậu, của cải đầy xe nhưng đó là của dân chớ đâu phải của con.
Lấy của người làm phước cho mình thì đâu có gì quan trọng.
 
Nghe vậy Hoàng Hậu giật mình, thức tỉnh.
 
Share:

7 Bài Học Khác Biệt Của Tôn Giáo Và Tâm Linh

7 Bài Học Khác Biệt Của Tôn Giáo Và Tâm Linh Dạy Cho Chúng Ta

Rất nhiều người lầm tưởng rằng Tâm linh thuộc về Tôn giáo hay những hiện tượng huyền bí không giải thích được là những biểu hiện thuộc siêu nhiên. Thậm chí, một số khác còn cho rằng Tâm linh như là một trường phái, do bởi một phần vì họ thiếu kiến thức, phần khác họ đang bị thao túng bởi nỗi sợ hãi đã mang sẵn trong người.

Nếu chúng ta chịu khó lùi về quá khứ để thử nghiên cứu và tìm hiểu về Tâm linh, chúng ta sẽ cùng có một nhận thức chung rằng thật ra Tâm linh chẳng có gì là huyền bí hay cao siêu và Tâm linh cũng chẳng có liên hệ gì đến các trường phái hay giáo phái nào cả.

7 sự khác biệt sau đây giữa Tôn giáo và Tâm linh sẽ giúp bạn hiểu những gì thực sự là Tâm linh.

1. Tôn giáo làm cho bạn bị gò bó – Tâm linh cho bạn sự tự do.

Tôn giáo dạy bạn một hệ tư tưởng và nói rằng bạn phải vâng phục theo những giới luật nhất định, nếu không, bạn sẽ bị trừng phạt bằng cách này hoặc cách khác.

Tâm linh cho phép bạn đi theo sự hướng dẫn của trái tim mình với những gì bạn cảm thấy là đúng.

Tâm linh giải phóng bạn khỏi sự ràng buộc với những giới luật chưa thuyết phục được bạn, cũng như nói với bạn rằng bạn không cần phải tuân lệnh bất cứ ai, bởi vì sau cùng thì tất cả chúng ta cũng đều như nhau, chỉ là một.

Tâm linh cho bạn nền tảng để bạn tự mình chọn lựa điều gì mới là thiêng liêng và đáng tôn kính.

2. Tôn Giáo dạy cho bạn sợ hãi – Tâm linh dạy bạn cách trở nên can đảm.

Tôn giáo nói với bạn những thứ khiến bạn thêm sợ hãi và đặc biệt họ luôn nói với bạn về những hậu quả đau đớn cho các việc bạn làm.

Tâm linh làm cho bạn nhận thức được hậu quả, nhưng không muốn bạn tập trung vào sự sợ hãi. Tâm linh chỉ bạn cách làm thế nào để vượt qua nỗi sợ hãi đó, dù hậu quả có thể đến như một tất yếu.

Tâm linh cho bạn biết cách hành động dựa trên tình yêu thương, chứ không phải hành động vì sự sợ hãi.

3. Tôn giáo nói cho bạn biết về Chân lý – Tâm linh cho phép bạn tự mình khám phá Chân lý.

Tôn giáo cho bạn biết những gì bạn cần tin và nói với bạn về lẽ phải.

Tâm linh để cho bạn khám phá niềm tin và lẽ phải thông qua chính bản thân bạn và hiểu về nó theo cách riêng độc nhất của cá nhân bạn.

Tâm linh để cho bạn kết nối với cái tôi cao nhất của mình và nhìn mọi thứ bằng chính tâm trí của bạn để khám phá sự thật là gì. Bởi vì sau cuối thì toàn bộ những gì là sự thật cũng đều giống như nhau cho mỗi người trong chúng ta.

Tâm linh để cho bạn tin vào sự thật riêng của bạn thông qua nhận thức của chính trái tim bạn.

4. Tôn giáo phân biệt với các tôn giáo khác – Tâm linh kết hợp các tôn giáo lại với nhau.

Thế giới của chúng ta có rất nhiều tôn giáo và tất cả đều rao giảng rằng lịch sử tôn giáo của họ là những câu chuyện thật.

Tâm linh nhìn thấy sự thật này trong tất cả các tôn giáo và kết hợp lại với nhau bởi vì sự thật đều là như nhau cho tất cả, chứ không dựa trên sự khác biệt về chi tiết của những câu chuyện mà tôn giáo nói đến.


5. Tôn giáo làm cho bạn bị lệ thuộc – Tâm linh giúp bạn độc lập.

Tôn giáo cho bạn cảm giác rằng nếu bạn tham dự vào các hoạt động tôn giáo thì sau đó bạn cảm thấy mình như là một người có đạo và mình là người xứng đáng hưởng hạnh phúc.

Tâm linh cho bạn thấy rằng, bạn không cần hoặc phải phụ thuộc vào bất cứ điều gì để đạt được hạnh phúc. Hạnh phúc luôn được tìm thấy ở chiều sâu bên trong bạn và chính chúng ta mới là người chịu trách nhiệm về nó. Sự thiêng liêng này được tìm thấy ở ngay bên trong mỗi con người của chúng ta. Đó là lý do tại sao chúng ta luôn luôn xứng đáng được hưởng hạnh phúc này.

6. Tôn giáo sử dụng hình phạt – Tâm linh sử dụng Nghiệp quả.

Tôn giáo nói rằng nếu chúng ta không tuân theo những quy tắc nhất định thì sẽ có hình phạt thích đáng đang chờ chúng ta dựa vào niềm tin của mỗi tôn giáo.

Tâm linh cho phép chúng ta hiểu rằng mọi hành động đều có hậu quả của nó và hình phạt là do phản ứng đến từ các hành động của chúng ta đã thiết lập trước đó, dựa theo những quy luật cơ bản của Vũ trụ.

7. Tôn giáo đưa bạn đi theo một hành trình có sẵn – Tâm linh cho phép bạn tạo riêng hành trình của mình.

Nền tảng của một tôn giáo là lịch sử những câu chuyện kể về một Đức Chúa Trời hay hay Đấng Giác ngộ nào đó gắn liền hành trình của các Ngài đi đến Giác ngộ. Tôn giáo nói về chân lý do họ đã phát hiện ra và nói rằng bạn chỉ cần thực hiện theo các bước đi của các Ngài.

Tâm linh cho phép bạn đi theo hành trình của riêng bạn để đạt được Giác ngộ và khám phá chân lý theo cách riêng của bạn, theo sau những gì trái tim bạn mách bảo là đúng, vấn đề là làm thế nào để bạn có được cảm nhận này.

Mỗi tôn giáo đều phát xuất từ tâm linh vì nhờ qua cuộc hành trình về tâm linh mà các vị ấy mới Giác ngộ. Chi tiết về các câu chuyện của các Đấng ấy không quan trọng bằng thông điệp về sự thật mà các Đấng ấy đã gửi đi.

Trong mỗi trái tim của chúng ta đều có sẵn một mật mã thiêng liêng, có khả năng phát đi những tín hiệu đồng điệu, qua đó mỗi chúng ta có thể khám phá sự thật. Đó là lý do tại sao tất cả các tôn giáo đều phải có một cái gì đó mà chúng ta tìm đến vì tin đó là là sự thật, là chân lý.

Sưu tầm Khoa Học Tâm Linh

Share:

Lời ngỏ

Đây là trang cá nhân, sưu tầm kinh sách, tài liệu pháp môn, Thánh ngôn Thánh giáo nội bộ các Nhà Đàn Chiếu Minh nhằm lưu trử và giữ gìn để tham khảo nghiên cứu . Kinh sách cũng có nhiều dị bản do in ấn nhiều lần khác nhau nên vẫn còn có sai sót.

Sưu tầm, nghiêm cứu, để học hỏi và chia sẽ với bạn Đạo 

Thân kính 

Dịch trang Web

Bài được xem nhiều

Tìm kiếm Blog này

Bài mới

Lưu trữ thư viện